| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Thursday, September 29, 2011

Thăm lăng Minh Mạng

Vào một buổi chiều rãnh rỗi, phóng xe hơn 12 km để đến được Lăng Minh Mạng. Mưa lất phất, phong cảnh lăng khá buồn. Thật sự từ trước đến giờ khi đi đến lăng này chưa bao giờ thấy vui cả, có lẽ phong cảnh hữu tình, mang mác buồn mà người chết đã chọn trước. Mặc dầu lăng mộ được xây chỉnh chu, bố cục rõ ràng, khuôn phép nhưng vẫn mang một vẻ đẹp hữu tình, lãng mạn.

Cổng vào lăng Minh Mạng
Đường vào điện thờ nhà vua và hoàng hậu
Nhìn xuống Minh lâu (thư viện nhà vua đọc sách)
Nhìn về điện thờ
Đường đến Bửu Thành và Huyền cung (nơi chôn vua)
Nhìn từ Huyền cung về phía Minh lâu
Chút cảnh thơ mộng trong Lăng Minh Mạng
Trụ biểu trong lăng
Minh lâu
Cảnh vật trong lăng đượm một nỗi buồn mang mác
Nhà nghỉ chân trong lăng
Nhà bi đình - nơi có bia ghi công đức nhà vua

Lên kinh ứng thí

Chuyến đi lên kính ứng thí khá vất vả, đi xe lên Tân Sơn Nhất, đi máy bay ra Phú Bài và tiếp tục lên xe vào thành phố Huế. Từ 3h30' sáng cho đến 9h30'sáng mới đến nơi. Đến nơi xong lại tiếp tục kiếm chỗ mua sắm và ăn uống. Cực nhưng phải ráng vì sự nghiệp con em chúng ta
Đi máy bay ra Huế

Đi xe buýt đến Huế

Tàu ca Huế trên sông Hương

  1. Ăn trưa tại siêu thị

Kỳ đài nhìn từ bên này sông

Trường quốc học Huế (đang đi bộ Thể dục)

Thảo luận nhóm

Phu Văn Lâu

Đường phố chật hẹp người đông đúc

Cửa ngăn vào thành nội

Thursday, September 1, 2011

Trần Văn Khê

Con người đã có một sự nghiệp lừng lẫy ở nơi từng được coi là thủ đô văn hoá của châu Âu, Giáo sư - Tiến sĩ của Đại học Sorbonne lừng danh, từng được tặng Huân chương Văn hoá nghệ thuật của Chính phủ Pháp, từng được tháp tùng Tổng thống Pháp Mitterand thăm Việt Nam, Uỷ viên danh dự của Hội đồng Âm nhạc thế giới của UNESCO, người thầy về dân tộc nhạc học được chào đón nồng nhiệt tại hơn 67 quốc gia, sau hơn 50 năm bôn ba đã trở về quê nhà - đó chính là GS.TS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ở Việt Nam.
Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ ở làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang ngày nay). trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền: năm 6 tuổi ông đã biết đàn kìm, đàn những bản dễ như "Lưu Thuỷ", "Bình Bán văn", "Kim Tiền", "Long Hổ Hội".
Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch, Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.
Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.
Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.
Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.
Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào "Truyền bá quốc ngữ" trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, "Truyền bá vệ sinh" của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến "đi Hội đền Hùng", và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.
Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.
Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, thi đậu ra trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế tại (sữa lại là Pháp không phải Hà Lan) Hà Lan. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris).(Ông là thành viên của Viện Khoa Học Pháp)
Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.
Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc và trên trường quốc tế:
• Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
• Hội Âm nhạc học (Société Francaise de Musicologie) (Pháp)
• Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Francaise d'Ethnomusicologie) (Pháp)
• Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
• Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
• Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
• Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
• Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
• Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
• Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
• Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
• Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ Thuật...
Ông đã đạt nhiều giải thưởng
• 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest
• Huy chương bội tinh hạng nhứt của chánh phủ Việt Nam Cộng hòa
• Văn hoá bội tinh hạng nhứt của bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa
• 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada)
• 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix Unesco Ơ.CIM de la Musique)
• 1991: Officier de l'Ordre des Arts et des Lettres. Ministère de la Culture et de l'Information du Gouvernement francais (Huy chương về Nghệ thuật và Văn Cchương của Bộ Văn hoá Pháp)
• 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn
• 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam
• 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp.

Bài đăng gần đây