Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)
Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).
Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím
Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.
Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan
Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.
Đến ngã ba Đồng Lộc
Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Ghé thăm đền ông Hoàng Mười
Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.
Saturday, April 30, 2011
Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân
Nguyễn Hữu Huân quê quán làng Mỹ Tịnh An, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường; nay là xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Thủa nhỏ ông rất thông minh và học giỏi. Năm 1852 (triều Tự Đức), ông dự thi Hương (kỳ thi xác định học vị Cử nhân) và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ khoa Huân. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Giáo thụ huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường.
Khi Pháp xâm lược ba tinh miền Đông Nam kỳ (trong đó có tỉnh Định Tường quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước ở Nam kỳ, ông đã từ bỏ dạy học, cầm vũ khí đứng lên chống Pháp (năm 1860).
Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho. Đầu năm 1862, bị Pháp đánh úp, bắt và giải ông về Sài Gòn. Lựa lúc đối phương sơ hở, ông trốn thoát được. Đầu năm sau, ông cùng Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.
Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu (Cai Lậy , Định Tường), ông
chuyển về vùng Thất Sơn, An Giang tiếp tục đấu tranh. Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc viên quan đầu tỉnh An Giang phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông Huân không tuân theo hòa ước 1862. Án sát Phạm Hoàng Đạo hay tin tâu lên vua Tự Đức, xin đưa ngay Nguyễn Hữu Huân về Huế. Nhưng khi chiếu chỉ đến, viên quan đầu tỉnh bị Pháp gây áp lực nên đã phớt lờ lệnh vua, khiến ông bị Pháp giam cầm.
Vợ Thủ Khoa Huân là Lê Thị Lộc đã làm đơn kiện viên quan đầu tỉnh An Giang về việc đã không tuân theo chiếu chỉ, đồng thời đòi Pháp phải thả ngay chồng mình. Ở Sài Gòn, dù Pháp đem mọi thứ ra dụ dỗ nhưng ông vẫn kiên quyết chối từ. Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 8 năm 1864, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày đi đảo Cayenne ở Nam Mỹ
Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo "sinh đồ" ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ. Nguyễn Hữu Huân lợi dụng điều kiện đi dạy học, liên lạc với các sĩ phu yêu nước và hội kín Hoa kiều Trường Phát, nhờ mua vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa.
Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình bất lợi đó, ông ra lệnh giải tán, bí mật tìm đường về lại Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ 3. Lần này dân chúng theo ông rất đông,trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ... địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý -Cai Lậy.
Đầu năm 1875, thất trận ở Bình Cách, Thủ Khoa cùng tùy tùng là Đốc binh Hương về Chợ Gạo, dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Nhưng Đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc, đã dẫn quân bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, rồi đem giam ông tại Mỹ Tho.
Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, Pháp kết án tử hình Nguyễn Hữu Huân. Trước khi thụ hình, ô
ng nhắn vợ con tế sống mình trong một tuần và xin vải viết bài thơ tuyệt mệnh và hai câu đối để thờ.
Ngày 19 tháng 5 năm 1875 (âm lịch: 14 tháng 4 năm Ất Hợi), Pháp cho tàu chở ông xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An, để hành quyết tại Bến Tranh lúc 12 giờ trưa. Năm ấy ông 45 tuổi.
Không rõ Thủ Khoa Huân có làm nhiều thơ không, nhưng chỉ bấy nhiêu bài còn lại sau đây, bài nào cũng bộc lộ được tinh thần bất khuất, kiên cường, dám xả thân vì nước Việt của ông.
Cho nên, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là "một hiện tượng đặc sắc của văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ."
Bài thơ chữ Hán dưới đây, ông làm trước khi bị chém, nay được tạc nơi bia mộ ông. Sau đây là bản dịch của Phan Bội Châu:
Ruổi dong vó ngựa trả thù chung
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua xá kể với anh hùng.
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ,
Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.
Và:
Hai bên thiên hạ thấy hay không ?
Một gánh cương thường, há phải gông.
Oằn oại hai vai quân tử trúc,
Long lay một cổ trượng phu tòng.
Sống về đất Bắc, danh còn rạng
Thác ở thành Nam, tiếng bỏ không
Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu
“Phản thần”,“đéo ỏa” đứa cười ông!
Bài thơ ông làm nghe tin vợ dám đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và đòi Pháp thả chồng:
Xem qua thư gửi rất kinh hoàng
Nhi nữ chà chà cũng lớn gan
Đơn bẩm cuối lòn loài bạch quỷ,
Sân quỳ vất vả phận hồng nhan
Bán mình đâu nệ phiền lòng sắt,
Chuộc tội thà xin trọn nghĩa vàng
Tiết khí dưới trần coi ít mặt,
Cang thường càng chuộng gánh giang san.
Ông làm trước khi bị đày ra đảo Cayenne ở Nam Mỹ:
Muôn việc cho hay số bởi trời
Chiếc thân chìm nổi biết bao nơi
Mấy hồi tên đạn ra tay thử,
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Chén rượu Tân đình nào luận tiệc
Vần thơ cố quốc chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng,
Hễ đứng làm trai trả nợ đời.
Nhân nhà Tổng đốc Phương có tiệc, ông làm bài này để đọc cho mọi người nghe:
Nghĩ thẹn râu mày với nước non
Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn.
Miếu đường cách trở niềm tôi chúa,
Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.
Áo Hán nhiều phen t
hay vẻ lạ,
Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon
Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi,
Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon!
Qua hình ảnh “cây bắp”, để tỏ bày tấm lòng cùng khát vọng của ông:
Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ,
Hiềm vì thương chút chúng dân thơ.
Nương oai tích lịch ôm con đỏ,
Vâng lịnh nam phong phất ngọn cờ.
Miễn đặng an nhà cùng lợi nước
Chỉ nài dãi gió với dầm mưa.
Biển hồ dầu lặng, tằm kình bặt
Giải giáp một phen chúng thảy nhờ.
Hai câu đối do Nguyễn Hữu Huân làm trước khi bị thụ hình, hiện được treo trang trọng tại bàn thờ của ông.
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.
( tạm dịch: Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng
Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua)
Mộ và đền Thủ Khoa Huân được xây dựng ngay tại quê nhà của ông. Ban đầu mộ được đấp bằng đất. Đầu thế kỷ 20, cháu ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh. Trong đền thờ có nhiều hoành phi và câu đối ca ngợi khí tiết của ông. Và nơi Thủ Khoa Huân bị chém là chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường xưa. Nơi đấy, cũng có bia tưởng niệm.
Thủa nhỏ ông rất thông minh và học giỏi. Năm 1852 (triều Tự Đức), ông dự thi Hương (kỳ thi xác định học vị Cử nhân) và đỗ đầu, nên được gọi là Thủ khoa Huân. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Giáo thụ huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường.
Khi Pháp xâm lược ba tinh miền Đông Nam kỳ (trong đó có tỉnh Định Tường quê ông), cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước ở Nam kỳ, ông đã từ bỏ dạy học, cầm vũ khí đứng lên chống Pháp (năm 1860).
Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho. Đầu năm 1862, bị Pháp đánh úp, bắt và giải ông về Sài Gòn. Lựa lúc đối phương sơ hở, ông trốn thoát được. Đầu năm sau, ông cùng Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.
Tháng 6 năm 1863, lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu (Cai Lậy , Định Tường), ông
chuyển về vùng Thất Sơn, An Giang tiếp tục đấu tranh. Pháp rất lo ngại nên gửi tối hậu thư, buộc viên quan đầu tỉnh An Giang phải giao nộp Thủ Khoa Huân cho họ làm tội, viện lẽ ông Huân không tuân theo hòa ước 1862. Án sát Phạm Hoàng Đạo hay tin tâu lên vua Tự Đức, xin đưa ngay Nguyễn Hữu Huân về Huế. Nhưng khi chiếu chỉ đến, viên quan đầu tỉnh bị Pháp gây áp lực nên đã phớt lờ lệnh vua, khiến ông bị Pháp giam cầm.Vợ Thủ Khoa Huân là Lê Thị Lộc đã làm đơn kiện viên quan đầu tỉnh An Giang về việc đã không tuân theo chiếu chỉ, đồng thời đòi Pháp phải thả ngay chồng mình. Ở Sài Gòn, dù Pháp đem mọi thứ ra dụ dỗ nhưng ông vẫn kiên quyết chối từ. Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 8 năm 1864, ông bị kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày đi đảo Cayenne ở Nam Mỹ
Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo "sinh đồ" ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ. Nguyễn Hữu Huân lợi dụng điều kiện đi dạy học, liên lạc với các sĩ phu yêu nước và hội kín Hoa kiều Trường Phát, nhờ mua vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa.
Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương, nhờ do thám nên Pháp bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình bất lợi đó, ông ra lệnh giải tán, bí mật tìm đường về lại Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ 3. Lần này dân chúng theo ông rất đông,trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ... địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý -Cai Lậy.
Đầu năm 1875, thất trận ở Bình Cách, Thủ Khoa cùng tùy tùng là Đốc binh Hương về Chợ Gạo, dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Nhưng Đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc, đã dẫn quân bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, rồi đem giam ông tại Mỹ Tho.
Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, Pháp kết án tử hình Nguyễn Hữu Huân. Trước khi thụ hình, ô
ng nhắn vợ con tế sống mình trong một tuần và xin vải viết bài thơ tuyệt mệnh và hai câu đối để thờ.Ngày 19 tháng 5 năm 1875 (âm lịch: 14 tháng 4 năm Ất Hợi), Pháp cho tàu chở ông xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An, để hành quyết tại Bến Tranh lúc 12 giờ trưa. Năm ấy ông 45 tuổi.
Không rõ Thủ Khoa Huân có làm nhiều thơ không, nhưng chỉ bấy nhiêu bài còn lại sau đây, bài nào cũng bộc lộ được tinh thần bất khuất, kiên cường, dám xả thân vì nước Việt của ông.
Cho nên, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là "một hiện tượng đặc sắc của văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ."
Bài thơ chữ Hán dưới đây, ông làm trước khi bị chém, nay được tạc nơi bia mộ ông. Sau đây là bản dịch của Phan Bội Châu:
Ruổi dong vó ngựa trả thù chung
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua xá kể với anh hùng.
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ,
Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.
Và:
Hai bên thiên hạ thấy hay không ?
Một gánh cương thường, há phải gông.
Oằn oại hai vai quân tử trúc,
Long lay một cổ trượng phu tòng.
Sống về đất Bắc, danh còn rạng

Thác ở thành Nam, tiếng bỏ không
Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu
“Phản thần”,“đéo ỏa” đứa cười ông!
Bài thơ ông làm nghe tin vợ dám đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và đòi Pháp thả chồng:
Xem qua thư gửi rất kinh hoàng
Nhi nữ chà chà cũng lớn gan
Đơn bẩm cuối lòn loài bạch quỷ,
Sân quỳ vất vả phận hồng nhan
Bán mình đâu nệ phiền lòng sắt,
Chuộc tội thà xin trọn nghĩa vàng
Tiết khí dưới trần coi ít mặt,
Cang thường càng chuộng gánh giang san.
Ông làm trước khi bị đày ra đảo Cayenne ở Nam Mỹ:
Muôn việc cho hay số bởi trời
Chiếc thân chìm nổi biết bao nơi
Mấy hồi tên đạn ra tay thử,
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Chén rượu Tân đình nào luận tiệc
Vần thơ cố quốc chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng,
Hễ đứng làm trai trả nợ đời.
Nhân nhà Tổng đốc Phương có tiệc, ông làm bài này để đọc cho mọi người nghe:
Nghĩ thẹn râu mày với nước non
Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn.
Miếu đường cách trở niềm tôi chúa,
Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.
Áo Hán nhiều phen t
hay vẻ lạ,Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon
Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi,
Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon!
Qua hình ảnh “cây bắp”, để tỏ bày tấm lòng cùng khát vọng của ông:
Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ,
Hiềm vì thương chút chúng dân thơ.
Nương oai tích lịch ôm con đỏ,
Vâng lịnh nam phong phất ngọn cờ.
Miễn đặng an nhà cùng lợi nước
Chỉ nài dãi gió với dầm mưa.
Biển hồ dầu lặng, tằm kình bặt
Giải giáp một phen chúng thảy nhờ.
Hai câu đối do Nguyễn Hữu Huân làm trước khi bị thụ hình, hiện được treo trang trọng tại bàn thờ của ông.
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.

( tạm dịch: Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng
Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua)
Mộ và đền Thủ Khoa Huân được xây dựng ngay tại quê nhà của ông. Ban đầu mộ được đấp bằng đất. Đầu thế kỷ 20, cháu ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh. Trong đền thờ có nhiều hoành phi và câu đối ca ngợi khí tiết của ông. Và nơi Thủ Khoa Huân bị chém là chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường xưa. Nơi đấy, cũng có bia tưởng niệm.
Kẻ sĩ (tổng hợp)
Hủ tiếu Mỹ Tho
Nếu ai đã ghé qua Mỹ Tho mà chưa ăn một tô hủ tiếu nơi đây thì xem như họ chưa đến, hoặc thật uổng phí vì chưa cảm nhận được một món ăn cực kỳ ngon của thành phố Mỹ Tho.
Hủ tiếu Mỹ Tho khác với hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò xứ Huế… ở chỗ không ăn với xà lách, dấm, rau ghém mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương… Điều làm nên hương vị riêng cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên 60 nhờ sự hoàn thiện từ khâu chọn bột gạo làm ra cọng bánh đến nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trứ danh đất Mỹ Tho.
Hủ tiếu Mỹ Tho khác với hủ tiếu Tàu, hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò xứ Huế… ở chỗ không ăn với xà lách, dấm, rau ghém mà dùng giá sống, chanh, ớt, nước tương… Điều làm nên hương vị riêng cho hủ tiếu Mỹ Tho trở nên nổi tiếng và nhiều người "bén mùi" kể từ thập niên 60 nhờ sự hoàn thiện từ khâu chọn bột gạo làm ra cọng bánh đến nồi nước lèo cùng tuyệt kỹ pha chế của các đầu bếp trứ danh đất Mỹ Tho.
Đã ăn hủ tiếu Mỹ Tho rồi, dù bạn có đi những nơi khác, ăn ở những nhà hàng sang trọng thì hủ tiếu của họ vẫn còn thiếu những hương vị rất riêng của Mỹ Tho.
Sở dĩ sợi hủ tiếu ở Mỹ Tho ngon hơn những sợi hủ tiếu nơi khác, bởi cọng hủ tiếu được làm từ loại gạo Gò Cát (đặc sản như gạo Tàu Hương, gạo nàng thơm chợ Đào). Đây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Sợi hủ tiếu làm bằng gạo Gò Cát, thường dai, trong và giòn hơn những loại gạo khác.
Bên cạnh đó, vị ngon của tô hủ tiếu còn do cách pha chế nước lèo. Gia vị một nồi nước lèo phải ngọt, thanh và cùng một số mùi vị đặc trưng khác mà chỉ khi nào nhấm nháp mới có thể cảm nhận hết được. Thông thường, nồi nước lèo ngọt là do hầm chung với xương tủy heo, mực sống cùng với những loại rau củ như củ cải, cà rốt...
Bên cạnh đó, cách người bán trổ tài thành thạo cũng khiến người ăn cảm thấy thích thú. Từng thao tác thật tài tình, chính xác. Vắt một nhúm hủ tiếu khô chỉ cần làm một lần là từng sợi hủ tiếu đứt ra và mỗi lần vắt đều bằng nhau như một. Rồi cho hủ tiếu khô vào một cái vợt cán tre, nhúng vài lần vào nước sôi. Sau đó vẩy cho ráo nước, cho hủ tiếu vào tô, bỏ vào đó một ít mỡ hành rồi trộn đều. Cuối cùng là rưới lên một vá nước lèo, bỏ vài lát thịt cùng với giá và một ít nước chanh là đã có một tô hủ tiếu thật bắt mắt.
Điều đặc biệt là khi đến Mỹ Tho, bạn không cần phải vào những hàng quán sang trọng vẫn có thể dùng được một tô hủ tiếu ngon chỉ với khoảng chục ngàn đồng (chưa đến 1 USD). Hủ tiếu Mỹ Tho được bày bán ở dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, công viên Lạc Hồng và cả ở những con hẻm nhỏ... Một số địa chỉ có thể thưởng thức hủ tiếu Mỹ Tho chính hiệu, thơm ngon như: quán Chú Hồng (trong hẻm nhỏ đường Giồng Dứa - Phường 7), quán Bánh Cam (trên đường Ấp Bắc - đối diện UBND Phường 5), quán Quần Ký (gần ngã tư Ngô Quyền - Nguyễn Huệ), ….
Kẻ sĩ (tổng hợp)
Sở dĩ sợi hủ tiếu ở Mỹ Tho ngon hơn những sợi hủ tiếu nơi khác, bởi cọng hủ tiếu được làm từ loại gạo Gò Cát (đặc sản như gạo Tàu Hương, gạo nàng thơm chợ Đào). Đây là vùng trồng lúa thơm địa phương của xã Mỹ Phong, ngoại thành Mỹ Tho. Sợi hủ tiếu làm bằng gạo Gò Cát, thường dai, trong và giòn hơn những loại gạo khác.
Bên cạnh đó, vị ngon của tô hủ tiếu còn do cách pha chế nước lèo. Gia vị một nồi nước lèo phải ngọt, thanh và cùng một số mùi vị đặc trưng khác mà chỉ khi nào nhấm nháp mới có thể cảm nhận hết được. Thông thường, nồi nước lèo ngọt là do hầm chung với xương tủy heo, mực sống cùng với những loại rau củ như củ cải, cà rốt...
Bên cạnh đó, cách người bán trổ tài thành thạo cũng khiến người ăn cảm thấy thích thú. Từng thao tác thật tài tình, chính xác. Vắt một nhúm hủ tiếu khô chỉ cần làm một lần là từng sợi hủ tiếu đứt ra và mỗi lần vắt đều bằng nhau như một. Rồi cho hủ tiếu khô vào một cái vợt cán tre, nhúng vài lần vào nước sôi. Sau đó vẩy cho ráo nước, cho hủ tiếu vào tô, bỏ vào đó một ít mỡ hành rồi trộn đều. Cuối cùng là rưới lên một vá nước lèo, bỏ vài lát thịt cùng với giá và một ít nước chanh là đã có một tô hủ tiếu thật bắt mắt.
Điều đặc biệt là khi đến Mỹ Tho, bạn không cần phải vào những hàng quán sang trọng vẫn có thể dùng được một tô hủ tiếu ngon chỉ với khoảng chục ngàn đồng (chưa đến 1 USD). Hủ tiếu Mỹ Tho được bày bán ở dọc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, công viên Lạc Hồng và cả ở những con hẻm nhỏ... Một số địa chỉ có thể thưởng thức hủ tiếu Mỹ Tho chính hiệu, thơm ngon như: quán Chú Hồng (trong hẻm nhỏ đường Giồng Dứa - Phường 7), quán Bánh Cam (trên đường Ấp Bắc - đối diện UBND Phường 5), quán Quần Ký (gần ngã tư Ngô Quyền - Nguyễn Huệ), ….
Kẻ sĩ (tổng hợp)





