| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Sunday, May 22, 2011

Viếng chùa Sắc Tứ

Viếng chùa Sắc Tứ Linh Thứu cổ tự (cái tên hơi dài), cảm nhận được nét yên tĩnh, thanh bình của một ngôi chùa vùng quê ven thành phố Mỹ Tho. Đặc biệt, đây là ngôi chùa được vua Gia Long ban sắc chỉ phong tặng là ngôi chùa của nhà vua, vì ngày xưa khi trốn sự truy lùng của quân Tây Sơn, vua Gia Long đã trốn vào nhà chùa, "chui" vào đại hồng chung để lánh mặt. Xin giới thiệu để bà con xem qua cho biết.

Cổng tam quan nhà chùa (Hình như do sư đoàn 7 xây tặng trước đây)



Đây là ngôi mộ Ông thầy mà ngày xưa che chở vua Gia Long


Đại Hồng Chung - nơi vua Gia Long ẩn trốn


Có lẽ vua hơi ốm và nhỏ con


Chánh điện của nhà chùa


Toàn cảnh nhà chùa


Một chút thanh bình

Ngọt mát canh mướp nấu tôm khô

Món ăn giải nhiệt mùa hè: Những quả mướp đầu mùa có hương thơm riêng không chỉ hợp với canh cua mà khi nấu cùng tôm khô cũng rất ngọt, mát lành, vừa giúp da trắng sáng, ngăn lão hóa.
Nguyên liệu:
- 2-3 quả mướp hương.
- 100g tôm khô, 10-20 hạt kỳ tử, gia vị…
Cách làm:
- Mướp gọt vỏ, bổ đôi rồi thái vát miếng vừa ăn.
- Tôm khô để vào bát, đổ nước ấm cho ngập. Ngâm khoảng 20 phút.
- Dùng tay bóp nhẹ tôm, để ra hết cát, cặn bẩn, vắt khô. Sau đó, cho tôm vào cối giã nhẹ.
- Phi thơm ít hành củ khô, nhớ cho thật ít dầu. Tiếp đến cho nước vừa đủ dùng (nếu có nước xương càng ngon), thêm tôm khô, đun sôi.
- Nồi canh sôi thì hạ bớt lửa, để liu riu để tôm ra chất ngọt. Sau đó thả mướp, nêm gia vị.
- Khi ăn rắc ít hạt tiêu, hành lá cắt nhỏ.
Mách nhỏ:
- Mướp là loại rau giàu chất dinh dưỡng, có tác dụng làm trắng, vì vậy mùa hè để chống lại tia nắng mặt trời nên ăn nhiều quả này.
- Mướp còn ngăn ngừa lão hóa da vì có chứa vitamin B1, vitamin C và các thành phần làm trắng da khác.
- Ngoài canh mướp nấu tôm, canh mướp cua đồng, mướp xào, bạn có thể ép mướp cùng các loại quả như táo, lê, nho… để uống để cải thiện tính đàn hồi cho da và ngăn ngừa nếp nhăn.
Theo Hàn Giang (Dân Việt)

Saturday, May 21, 2011

Góc nhìn khác Khu di tích Rạch Gầm-Xoài Mút

Lại một lần đến thăm khu di tích Rạch Gầm - Xoài Mút. Không có người hướng dẫn mà cũng không có ai mở cửa khu trưng bày, mặc dù vẫn còn trong giờ làm việc. Thật đáng tiếc. Chỉ chụp một vài tấm hình mới giới thiệu cho bà con xem chơi.










Thursday, May 19, 2011

Văn miếu Trấn Biên

17 năm sau khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào xác lập nền hành chính của vùng đất mới phương Nam, văn miếu Trấn Biên được xây dựng (1715). Theo “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, ngoài Thăng Long- Hà Nội (Văn miếu Quốc tử giám, 1070), văn miếu được xây dựng ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng văn miếu Trấn Biên là văn miếu được xây dựng sớm nhất ở phía Nam, trước văn miếu Vĩnh Long, Gia Định và cả văn miếu kinh đô Huế.

Theo “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức biên soạn vào đầu thế kỷ XIX (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, xuất bản năm 1972), Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, TP. Biên Hòa) vào đời vua Hiển Tông năm Ất Vị thứ 25 (tức năm 1715). Văn miếu Trấn Biên đã qua hai lần trùng tu vào năm Giáp Dần (1794) và năm Tự Đức thứ 5 (1852). Theo mô tả của sử sách, văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, “nơi đây núi sông thanh tú, cỏ cây tốt tươi... Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo... Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn”.
Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trong bối cảnh vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã khá ổn định về chính trị, phát triển kinh tế- xã hội (có Nông đại đại Phố, có dinh trấn...) như một sự xác lập vị thế địa văn hóa-chính trị của vùng đất; đồng thời là sự tiếp nối văn miếu Thăng Long và truyền thống trọng học, trọng trí thức nhân tài của tổ tiên trải qua nhiều thế kỷ xây dựng quốc gia tộc lập tự chủ. Gắn liền với văn miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển khá sớm ở Biên Hòa- Đồng Nai lúc bấy giờ. Và trên nền giáo dục ấy cũng đã sản sinh ra những tên tuổi làm rạng rỡ vùng đất phương Nam, đồng thời tô điểm thêm truyên thống văn hóa ngàn năm của dân tộc ta như: Võ Trường Toản, Trịnh Hòai Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Nguyễn Đình Chiểu...
Do thời gian và những biến cố lịch sử, văn miếu Trấn Biên bị tàn phá không còn lại dấu vết (theo “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu, năm 1861 khi tiến chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá văn miếu Trấn Biên), người đời nay chỉ hình dung văn miếu chỉ hình dung văn miếu Trấn Biên xưa qua sử sách. Song với những gì được mô tả và người đời lúc bấy giờ xưng tụng, người Biên Hòa – Đồng Nai hôm nay rất đỗi tự hào về ngôi đền văn miếu của mình.
Nằm trong kế hoạch xây dựng các thiết chế văn hóa ở Đồng Nai, nhân kỷ niệm 300 năm Biên Hòa – Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng lại văn miếu Trấn Biên. Lễ khởi công diễn ra vào ngày 9-12-1998 và khánh thành công trình giai đoạn 1 vào ngày mùng 3 Tết Nhâm Ngọ 2002 (nhằm ngày 14-2-2002). Trong dịp kỷ niệm 290 năm văn miếu Trấn Biên, các công trình giai đoạn 2 tiếp tục được xây dựng và mở rộng thêm diện tích.
Việc phỏng dựng lại văn miếu Trấn Biên không chỉ là việc làm hướng về cội nguồn, truyền thống đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân mà còn gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa để “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) của Đảng đã đề ra.
Văn miếu Trấn Biên được xây dựng lại theo hình thức truyền thống nhưng thể hiện biểu trưng mới về văn hóa giáo dục và tinh thần trọng việc học hành theo quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Văn miếu là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc và của địa phương; đồng thời là một thiết chế văn hóa, du lịch gắn với khu danh thắng Bửu Long đã được công nhận là di tích quốc gia. Do vậy, ngoài việc thờ phụng các danh nhân văn hóa – giáo dục xưa và nay, Văn miếu Trấn Biên còn là nơi tổ chức lễ báo công, tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực. Thực tế từ khi khánh thành (năm 2002) đến nay, Văn miếu Trấn Biên là nơi thường xuyên diễn ra các lễ viếng các bậc tiền nhân, tổ chức tuyên dương, khen thưởng, báo công những thành tích đặc biệt trên các lĩnh vực mà Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục. Ngoài ra, văn miếu cũng là nơi đón nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh cũng như các đoàn khách quốc tế khi đến thăm Đồng Nai.
Với hình thức, nội dung và hoạt động mới như vậy, có thể nói Văn miếu Trấn Biên còn là động lực tinh thần lớn lao thể hiện khát vọng vươn lên về trí tuệ và tài năng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà; quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần phong phú, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.




Kẻ sĩ (theo dongnai.gov.vn)

Vú sữa Lò rèn

Sở dĩ có tên này là do người Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang muốn ghi nhớ công ơn của ông thợ rèn đã nhân giống vú sữa ngon cho vùng đất này. Vú sữa ở đây quả tròn, trắng, mỏng vỏ, nhỏ hột, dày ruột. Lúc chín, quả phơn phớt vàng hồng, thoảng thơm, mát dịu, ngọt thanh...
Vào những buổi trưa hè nắng nóng, trèo lên cây vú sữa tìm hái trái chín, vừa vo tròn vừa bóp đều tay cho mềm trái, rút cùi, ruột trái dâng cho phần nước trắng đục như dòng sữa mát lịm. Lõi ruột trắng trong, mềm dịu, thanh ngọt. Thịt mềm lưu lại hương vị đặc biệt. Thật thích thú khi ngồi tựa giữa chắn ba thân cây, thưởng thức hương vị của trái vú sữa, hóng gió mát đồng nội, mà nghiệm nhớ lại thời bé thơ còn ôm bầu sữa mẹ.
Đó là cách ăn dân dã, còn khi đãi khách, người ta thường vạt núm trái vú sữa, dùng muỗng múc ăn dần hoặc xẻ trái thành sáu miếng, lượn dao vòng tách phần vỏ (vẫn giữ phần ruột) để trên đĩa, dùng nĩa ghim ăn từng miếng.
Còn có cách ăn cầu kỳ: gọt bỏ vỏ, thái nhỏ từ trên núm xuống (bỏ hột và cùi) cho vào máy xay sinh tố, thêm đường hoặc sữa, cacao, cho vào khuôn đá để tủ lạnh, ăn như sữa chua, hoặc trộn với đá bào, sẽ cho ta một ly sinh tố đặc biệt.

Bài đăng gần đây