| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Friday, August 12, 2011

Uy lùn phiêu lưu trên đất Thái (Phần 1)

Lần đầu tiên Uy lùn ra nước ngoài, cái gì cũng lạ, cái gì cũng thích. Nhưng thích nhất là Uy lùn lần đầu tiên được đi máy bay. Khổ nổi ra nước ngoài nhưng Uy lùn chỉ biết nói tiếng Việt nên khó tiếp xúc với người Thái. Thêm món ăn người Thái nó ngọt ngọt, lợ lợ nên cũng là một thử thách lớn với Uy lùn. Qua chuyến đi, Uy lùn đã tập hợp đầy đủ hình ảnh để giới thiệu với bà con chuyến hình trình gian khổ mà vinh quang đó.


Lần đầu tiên chuẩn bị lên máy bay. Thích thật !
Wow, Ngủ một giấc sáng dậy khỏe quá.
Uy ăn bánh mì tranh với ... cá
Uy viếng thăm cung điện vua Rama số 6
Mệt quá, ăn no rồi muốn đi ngủ quá.
Xem xiếc thú thích thật.
Lại một buổi sáng tại Pattaya
Biển ở Thái Lan sạch quá.
Chán quá. Mẹ không cho đi dù lượn.
Uy tắm xong rồi.
Uy đang ăn bánh da ... heo nè.
Hình cá đâu có đẹp. Uy đẹp hơn nè.
Lại uống nước miễn phí nữa.
Uy chụp hình với bà ngoại nữa.
Vườn Nong nooch đây rồi
Có cả gấu trúc.
và cọp đang ... ngủ nè.

Thursday, August 11, 2011

Rau Choại

Người quê xa xứ, khi nghe nhắc đến cái tên Tháp Mười thì có lẽ không quên được câu ca dao:
“Tháp Mười nước ngập đồng chua
Nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng”.
Đúng vào cái thời điểm giao mùa ấy, thiên nhiên bỗng trở nên hiền hòa hơn và ưu đãi cho người dân xứ này những đặc sản vô cùng phong phú: Rắn, cá lia thia, chuột đồng, bông súng, bông điên điển, rau hẹ… Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đề cập đến một loài rau rất đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, đó là rau “chạy”, một loại rau có đọt non xoắn tít như con cuốn chiếu cuộn mình, ăn rất ngon.

Theo lời kể của những bậc tiền bối, vào buổi đầu khai hoang lập nghiệp, người ta đã phát hiện ra loài rau “chạy” có mặt trước họ từ bao đời trên vùng đất này. Tôi chưa có dịp nghiên cứu kỹ về tên của nó, nhưng được biết rau “chạy” mà chúng ta quen gọi là do nói trại ra từ chữ “choại”. Rau choại có mặt hầu như ở khắp nơi trong vùng Đồng Tháp Mười. Nó thuộc họ dây leo, thân bò đến đâu thì bám rễ đến đó, sống được trong vùng bưng, trũng nhờ bộ rễ có sức hút nước mạnh, đặc biệt rất thích nghi với vùng đất nhiễm phèn. Rau choại có nhiều loại. Dựa vào những đặc điểm và môi trường sống của nó, dân gian gọi bằng những cái tên khác nhau: Choại đá, choại vườn, choại rừng, chột lụi, rau ván… Tất cả các loại rau choại trên đều ăn được, tuy nhiên mỗi loại có những mùi vị riêng.

Rau choại đá toàn thân có màu xanh đọt chuối, mọc thành bụi, lá già to cao trông tựa lá dương xỉ rất đẹp; ăn có vị chát, đắng. Trước đây, trong quá trình khai hoang lập nghiệp, người dân bám trụ ở khu vực Đồng Tháp Mười ít có điều kiện giao thương với bên ngoài, những ngày hết lương thực, thực phẩm, họ phải hái đọt non của rau choại đá thay thế. Vì nó rất chát và đắng, nên phải luộc sơ qua nước sôi, vớt ra rổ để ráo trước khi chế biến thành món ăn khác. Với vị chát đặc trưng của rau choại đá, người ta thường dùng nó để nấu món canh chua với cá rô đồng, cơm mẻ, đây là món ăn độc nhất vô nhị chỉ ở vùng này mới có.

Rau choại rừng là loại rau choại thỉnh thoảng được bày bán ở ngoài chợ, loại rau phổ biến nhất trong các loại rau cùng họ. Rau choại rừng toàn thân và lá đều có màu xanh nhạt pha lẫn chút hồng, lá non có màu hồng thẫm, tất cả các bộ phận của cây choại rừng đều dùng được trừ những lá già. Người dân vùng Đồng Tháp Mười thường vào rừng chọn những dây choại già, cắt thành đoạn tùy ý, đem về phơi khô bó lại thành bó để dành. Những người chuyên làm nghề cá, dây choại là bạn đồng hành của họ khi cần để bện nom, lợp, đăng, đó… Dây choại còn dùng để làm nuộc lạt lợp nhà, buộc lại cái kèo, đòn tay trong căn nhà đơn sơ của người đi khai hoang ngày trước.

Rau choại vườn có thân cao, to, thường mọc chen theo những bụi tre gai, liếp dừa, trong vườn cây tạp, dọc mé sông, thích nghi ở những vùng nước ngọt, nhiễm phèn nhẹ. Đọt rau choại vườn mập mạp, vị ngọt, ăn rất giòn và thơm, rất hiếm gặp nên không được bày bán ở ngoài chợ như rau choại rừng.



Bàn về các món ăn chế biến từ rau choại, người ta nghĩ ngay đến món rau choại luộc. Rau choại mua ở ngoài chợ, người bán có khi để qua đêm, nên đọt bị đen lại và già đi. Gặp trường hợp này, trước khi chế biến phải lặt lấy phần non; muốn đọt choại tươi, giòn tốt nhất là chịu khó đi hái về và dùng ngay. Đọt choại luộc chấm mắm nêm, hay nước tương đều ngon. Thế nên, vùng Đồng Tháp Mười từ xưa đã có ca dao rằng:

Rủ nhau lên đất bảy làng
Hái rau choại chột, nhổ bàng về đương
Choại chột thì chấmnước tương
Bàng thì đương nóp người thương tôi nằm.

Đối với người dân quê như vậy là đủ lắm rồi. Những ai muốn cầu kỳ, bên cạnh chén mắm nêm, nước tương có thêm vài con cá rô chiên hoặc cá lóc nướng trui, thì tuyệt! Thông thường, nước luộc đọt choại ít ai bỏ, mà cho vào đó chút muối, chút bột ngọt để húp xì xoạp sau bữa ăn, chất ngọt của nó không thua bất cứ loại canh nào.

Nhớ những ngày mới về đây lập nghiệp, hái đọt choại nấu độn với cháo trắng mà không đủ để ăn. Ngày nay ở vùng này có món cháo nhộng ong nấu độn măng tươi, đọt choại, nấm rơm mà dân sành điệu thường ví von: “Ong - măng – núm - cháo - chạy”, ngụ ý nhắc đến cái “công thức” dễ nhớ, đậm đà khó phai của đọt choại. Đối với dân nhậu thì có món đọt choại nhúng lẩu. Vào thời điểm tháng bảy, tháng tám âm lịch, khi con nước sắp sửa tràn đồng và bông điên điển nở rộ, nấu một nồi lẩu lươn với đọt choại và bông điên điển, bạn bè lâu ngày gặp lại ngồi nhâm nhi vài xị đế thì thật hết ý!

Kể ra thì nghe sang, thật tình kiếm được mớ rau choại đủ ăn vào thời điểm hiện nay không phải chuyện dễ. Muốn hái được choại phải vào rừng, những nơi mà người ta chưa kịp khai hoang, hoặc dọc những bờ kênh xáng mới cạp đất bỏ lên. Hái choại đòi hỏi phải quen đường thuộc lối, nếu lơ tơ mơ có ngày bị ong nghệ đốt cho sưng mặt. Một kg đọt choại hiện nay dao động từ 4.000 đến 6.000 đồng, giá này tương đối hấp dẫn cho một bộ phận người lao động nghèo kiếm sống trong mùa nước nổi.

Nguồn tin: N. LINH - Báo Ấp Bắc

Tuesday, August 9, 2011

Vu lan thắng hội

Lễ Vu Lan được bắt nguồn từ một bản kinh ngắn của Phật giáo Đại thừa. Theo kinh điển nhà Phật:
Một trong những đệ tử lớn nhất của Phật Thích Ca là ông Đại Mục Kiều Liên, sau khi dùng “thiên nhân thông” đã nhìn thấy mẹ của mình đang ở địa ngục. Thương mẹ phải chịu kiếp đọa đày, đói khát, ông liền dâng lên mẹ của mình bát cơm để mẹ ăn cho đỡ đói lòng.
Hình ảnh bà Thanh Đề chụp ngay bát cơm khi ngài Kiều Liên dâng lên, một tay che không cho người khác thấy vì sợ bị giật mất, tay kia bốc ăn và khi bà vừa đưa miếng cơm lên miệng thì cơm bỗng hóa thành than hồng cháy đỏ không sao ăn được. Mục Kiều Liên vô cùng đau xót trở về xin với Phật cứu mẹ của mình.

Phật thuyết kinh Vu Lan dạy Mục Liên vào rằm tháng 7 hàng năm dâng bát cúng dường chư tăng mới giải thoát mẹ ra khỏi địa ngục. Từ đó có lễ Vu Lan, hội Vu Lan dành cho những người con báo hiếu công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha.

Nguời dân Việt tiếp nhận những tích chuyện này nhưng đã mở rộng ra, biến thành lễ "xá tội vong nhân". Không chỉ là dịp lễ để tỏ lòng thành kính với các bậc sinh thành, cũng không cúng riêng "quỷ miệng lửa" mà cúng tất cả các cô hồn nói chung. Nguời ta cho rằng, những ai khi sống phạm nhiều tội lỗi thì linh hồn sẽ bị xiềng xích chịu đày ải nơi địa ngục. Tuy nhiên, mỗi năm đến dịp rằm tháng Bảy, xiềng gông được mở để mọi cô hồn có dịp trở về dương thế gặp lại người thân, nhận tiền vàng, đồ ăn và quần áo. Mỗi năm một lần, mọi linh hồn, bất kể khi sống thế nào, đến ngày đó vẫn được "xá tội", được hưởng sự yêu thương của đồng loại. Nhà nhà mua sắm đồ vàng mã, nấu cháo loãng, rang bỏng ngô chuẩn bị cúng ngoài trời để đãi "ma đói" - những cô hồn vờ vật không có người thân cúng giỗ.

Giáo sư Hoàng Như Mai nhận xét: "Ngày lễ Vu Lan, ngày Rằm tháng Bảy, ngày xá tội vong nhân có thể được coi là ngày tình thương Việt Nam vì con người, vì cuộc sống hiền hòa, an lạc, tiến bộ cho loại con người".

Hàng năm, tại Việt Nam vào ngày rằm tháng 7, nhiều lượt người từ khắp mọi nơi, thiện nam, tín nữ đến lễ ở các chùa như ngày hội của việc báo hiếu đối với đức sinh thành dưỡng dục. Cùng với việc báo hiếu mẹ cha nhiều địa phương còn tổ chức Lễ cúng thập loại chúng sinh, những cô hồn không nơi thờ phụng...lang thang đây đó.


Thư gửi mẹ mùa Vu Lan

Chẳng biết tự lúc nào con biết nghĩ về mẹ một cách chân thành, tự khi nào con thấy thương mẹ hơn tất cả. Dù giờ con cũng đã là một người mẹ, nhưng mẹ vẫn là người mẹ tuyệt vời nhất trong tâm tưởng, trong trí nhớ và trong những kỷ niệm của con.

18 tuổi con vào đại học, mẹ hãnh diện lắm. Nhưng những ngày đầu xa con, chiều nào đi làm về, mẹ cũng ngồi sau thềm lặng khóc. Mẹ lôi trong tủ chiếc áo con vẫn thường mặc để ngắm, để ngửi cho đỡ nhớ. Mẹ vẫn bảo mẹ sinh con ra để “chấy rận” về già khi mà các anh chị con đã thoát ly.

22 tuổi con tốt nghiệp ra trường. Con bắt đầu biết suy nghĩ, biết thương mẹ nhiều hơn, nhưng vẫn còn coi mẹ “lẩm cẩm” mỗi khi mẹ nhắc nhở con điều này điều nọ. Mỗi lần con về, mẹ vui đến quên ăn. Cứ chiều thứ 7 mẹ lại nhắc “không biết tuần này cô Út về không”. Thấy tiếng còi xe, mẹ lại lập cập chạy ra cổng, chắc mẹ thất vọng lắm nếu đó không phải là con của mẹ đã về!

25 tuổi con về nhà chồng. Ngày tiễn con mắt mẹ rơm rớm nước. Hình ảnh đó khắc sâu trong tâm trí của con để rồi đêm đầu tiên về nhà người ta, con đã khóc, khóc rất nhiều.

Thành con nhà người rồi con mới chợt nghĩ mình chưa làm được gì để báo hiếu mẹ cha. Nhìn khuôn mặt mẹ mỗi ngày khắc thêm những nếp nhăn, con càng biết trân trọng hơn những ngày được ở bên mẹ mỗi năm Tết về. Còn mẹ, mẹ vẫn mong con khắc khoải...

Khi nghe tin con sắp sinh, mẹ lặn lội cả trăm cây số xuống với con. Vì sợ con tủi, vì lo con sinh khó, mẹ vội vàng đi ngay giữa đêm đông gió rét để rồi bị cảm nặng, nhưng mẹ có nề hà gì. Mẹ đã quen vất vả cả mấy chục năm rồi để 10 anh chị em chúng con khôn lớn.

Rồi cha ngã bệnh. Mẹ lại tất tả trở về bên cha. Để chúng con yên tâm công tác, mẹ đã giành hết phần chăm cha. Năm năm trời mẹ từ bỏ “già vui chùa” để lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho cha, không một lời than vãn.

Cứ tưởng cha mẹ được “bách niên giai lão” bên nhau, nhưng cha đã mãn nguyện ra đi thanh thản. Mẹ đã quen có cha sớm tối, nên ảo tưởng lúc nào cũng có cha bên cạnh.

Mẹ mời cha về ăn cơm mỗi bữa mà như cha đang quanh quẩn đâu đây. Trong mỗi giấc ngủ trưa, ngủ tối mẹ vẫn ú ớ gọi cha, vẫn đáp lại những tiếng cha gọi mẹ trong ảo vọng. Cha hiền lành, đức độ - đó là món quà nhân duyên trời ban cho mẹ. Nhìn mẹ con hiểu phải tình nghĩa lắm mẹ mới có thể như thế. Một năm sau ngày cha ra đi, tết đến mẹ thắp hương vẫn khóc, vẫn gọi cha tha thiết khi chúng con về đông đủ.

Con gái con được sáu tuổi cũng là lúc chuyện gia đình con tan vỡ. Mẹ khuyên con gắng chịu đựng, vì con của con, vì truyền thống gia đình. Con không muốn đến tuổi thất thập mà mẹ vẫn phải bận lòng về con cái, và con đã chịu đựng, đã cố gắng. Lòng thương người và sự nhẫn nhịn con thừa hưởng ở mẹ. Nhưng mọi cố gắng của con đều không được đền đáp. Con đành nói lời xin lỗi mẹ. Mẹ khóc, khóc thật nhiều. Con đau lòng lắm. Nhưng thương con, xin mẹ hãy hiểu và chia sẻ cùng con…

Mẹ vẫn bảo mẹ là người tỷ phú về con. Trong tay mẹ có tất cả 20 đứa con trai, gái, dâu, rể, 23 đứa cháu nội ngoại, 7 đứa chắt... Con số tròn trĩnh 20 người con của mẹ giờ thiếu một người. Con đau lắm khi biết mẹ vì con gái út mà vẫn đau đáu. Nhưng mẹ ơi, Út của mẹ giờ cũng đã lớn khôn, nó vẫn làm đúng theo những gì mẹ dạy, vẫn sống chân tình giữa tất cả sự yêu ghét của cuộc đời.

Con chợt nhớ câu: “Con không đợi đến ngày kia mất mẹ mới giật mình khóc lóc. Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ…”. Vâng, con sẽ làm mọi điều cho mẹ bớt những đau khổ. Con sẽ cố gắng để mẹ thấy con gái của mẹ không thành DANH nhưng thành NHÂN mẹ nhé!

Thanh Phượng

Wednesday, August 3, 2011

Nước mắm Phú Quốc

Nước mắm Phú Quốc là loại nước mắm được sản xuất tại Phú Quốc, một đảo lớn ở phía tây nam của Việt Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang.
Nó là một trong các loại nước mắm không những nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được biết ở nhiều nước trên khắp thế giới. Nước mắm Phú Quốc được sản xuất từ nguyên liệu chính là cá cơm Phú Quốc, có truyền thống trên 200 năm trong nghề làm mắm.
Nước mắm Phú Quốc đã được công nhận tên gọi xuất xứ "nước mắm Phú Quốc" tại châu Âu.
Lịch sử
Trước năm 1945 nhà thùng tập trung ở hai nơi là Dương Đông và Cửa Cạn. Năm 1945 ở Dương Đông có 75, Cửa Cạn có 19 và An Thới có 2 nhà Thùng. Từ năm 1946 một số nhà thùng bị chiến tranh tàn phá, hiện nay nhà thùng tập trung ở hai nơi là Dương Đông và An Thới.
Thiết bị
Nước mắm được sản xuất trong những thùng gỗ lớn, nó đóng vai trò như là một tank lên men trong ngành sản xuất rượu bia nhưng thời gian lên men dài hơn, có khi đến 1 năm. Trước kia thùng đựng nước mắm thường làm bằng cây bời lời vì cây này mềm nên khi niền không có chỗ hở, hiện nay loại cây này khó kiếm nên người ta dùng vên vên và chai. Thùng được niền bằng song mây có nhiều ở núi Ông Tám và Bắc Đảo.
Nguyên liệu
Bất cứ loại cá nào cũng có thể sử dụng để làm nước mắm, nhưng người sản xuất nước mắm Phú Quốc chỉ sử dụng duy nhất loại cá cơm làm nguyên liệu. Cá cơm có nhiều loại: Sọc Tiêu, Phấn Chì, Cơm Đỏ, Cơm Lép, Sọc Phấn, Cơm Than. Loại cá cơm cho nước mắm ngon nhất là Sọc Tiêu và Cơm Than. Người ta trộn 2 hay 3 phần cá với 1 phần muối rồi để đến 1 năm, càng để lâu hàm lượng đạm càng cao nhưng nước mắm ít thơm và màu bị sậm hơn. Người ta còn chôn nước mắm vài ba năm, lúc đó màu nước mắm thành đen gọi là nước mắm lú, dùng để chữa bịnh. Nếu dùng cá ươn thời gian sẽ mau hơn nhưng nước mắm không thơm và màu không đẹp.

Monday, August 1, 2011

Vụ án Lệ Chi Viên

Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải, là vụ án mà Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tam tộc.
Vụ án
Ngày 27 tháng 7, 1442 (năm Nhâm Tuất), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc.
Truyền thuyết

Có truyền thuyết một thời cho rằng lúc (theo truyền thuyết thì cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cho học trò phát cỏ ở ngò để làm chỗ dạy học cho học trò chứ không phải là Nguyễn Trãi) Nguyễn Trãi còn dạy học có dự định cho học trò phát hoang khu vườn, đến đêm nằm mơ thấy một người đàn bà với bầy con dại tới xin ông cho thư thả ít hôm mới dọn nhà vì con mọn, sáng ra khi học trò của ông phát cỏ vườn nhà thì đánh chết một bầy rắn, lúc đó ông mới hiểu ra ý nghĩa giấc mơ, ông than thở, cho chôn bầy rắn và cho học trò biết là loài rắn thường hay thù dai, thế nào cũng trả thù ông. Đêm đó, lúc ông đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà nhỏ một giọt máu thấm vào chữ "đại" ("đời") qua ba lớp giấy ứng với việc gia tộc ông bị hại đến ba đời. Ngày sau con rắn hóa ra bà Nguyễn Thị Lộ dụ dỗ ông, hại ba đời nhà ông và biến thành rắn bò đi khi bà Nguyễn Thị Lộ bị dìm xuống sông.


Nhiều người tin rằng truyền thuyết này nhằm đổ tội cho bà Nguyễn Thị Lộ, giải thích nguyên nhân tiền định về cái chết của vua Lê Thái Tông và Nguyễn Trãi, xoa dịu lòng tiếc thương Nguyễn Trãi và chán ghét nhà Lê nhỏ mọn đối với công thần. Họ cho rằng đây là thuật tuyên truyền của tầng lớp thống trị hồi đó lợi dụng lòng mê tín của nhân dân. Ngày nay truyền thuyết này bị bác bỏ và không được xác chứng..
Nguyên nhân

Đến nay, nhiều nhà sử học đã đi đến thống nhất về nguyên nhân đích thực của vụ thảm án này. Chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Ngôi thái tử

Ngoài suy đoán căn cứ vào sử sách, mới đây các nhà nghiên cứu tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê (công bố trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử" của Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ) và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại. Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông.
Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nguyễn Thị Anh là mẹ của Bang Cơ.

Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Bà này được vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442.

Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án.

Theo sử sách, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con, ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói: "Ta hối không nghe lời Thắng, Phúc". Các nhà nghiên cứu cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này.

Chính bởi ngôi vua của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm 1459, con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "Diên Ninh (niên hiệu của vua Nhân Tông) vốn không phải là con của tiên đế (Thái Tông)..."

Dù sao đi nữa, chuyện Bang Cơ có phải con vua Thái Tông thực hay không nhưng cũng như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là "nghịch", là trái lẽ.

Về các bài thơ của Đinh Liệt
Trong cuốn “Ngọc phả họ Đinh” do công bộ thượng thư Đinh Công Nhiếp, con trai đầu của thái sư Đinh Liệt, có một số bài thơ do Đinh Liệt viết có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên.

Bài thơ Nôm nhận xét về Lê Thái Tông:
Tống Thai dáng dấp một anh quân
Đắc sắc say chơi biếng kiệm cần
Hoạ tự trong nhà nhô đầu mọc
Di căn bệnh hoạn hại cho thân

Trong bài này Đinh Liệt buộc phải dùng phép nói lái: Tống Thai tức là Thái Tông Lê Nguyên Long. Vua là một “anh quân” khi vì ông biết ngăn ngừa cường thần, dẹp phiên trấn, sùng nho, mở thi cử, song lại quá ham tửu sắc. Về “hoạ tự trong nhà”, Đinh Liệt có bài thơ:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa
Bất thức hà nhân chủng bảo đa
Chủ kháo Tống khai vi linh dược
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa

“Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức là Bang Cơ, con Nguyễn Thị Anh, “thịnh y” là “thị Anh”. Bài này có thể tạm dịch:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Trước khi vào cung, Thị Anh đã gian díu với Lê Nguyên Sơn, một người thuộc họ xa của dòng dõi Lê Khoáng (cha Lê Lợi). Một bài thơ khác, Đinh Liệt viết:

Tống Thai mạc kiến nguy ký hiện
Nịch ái Thịnh y nhật nhật tăng
Mỹ sắc điềm ngôn gia phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp hải hà băng

Dịch là:

Thái Tông chẳng thấy nguy đã hiện
Say đắm Thị Anh cứ mãi tăng
Sắc đẹp lời ngon kèm phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp có ngày băng

Việc Thị Anh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng được Đinh Liệt viết trong bài thơ mà nhiều người cho rằng vì chính hai người này đã mật báo cho ông và Nguyễn Trãi biết:

Nhung Tân hà hữu Tống thai tinh
Lục nguyệt khai hoa quái dị hình
Niên nguyệt nhật thời Thăng Đính ký
Hoàng bào ô nhiễm vạn niên thanh
chữ Thăng Đính đọc ngược là Đinh Thắng

Dịch là:

Nhân Tông không phải máu Nguyên Long
Sáu tháng hoài thai cảnh lạ lùng
Năm, tháng, ngày, giờ Đinh Thắng chép
Hoàng bào dơ bẩn tiếng ngàn năm

Với cách gọi các vua bằng miếu hiệu như Thái Tông, Nhân Tông, chắc chắn các bài thơ này Đinh Liệt viết vào thời Lê Thánh Tông. Dù Nhân Tông và thái hậu Nguyễn thị đã chết nhưng việc này vẫn không thể nói công khai, vì trên danh nghĩa, ngôi vua của Nhân Tông vẫn là hợp pháp. Có như vậy, việc cướp ngôi của Lê Nghi Dân mới là "phản nghịch" và việc lên ngôi của Thánh Tông mới là hợp lẽ. Đây chính là nguyên nhân khiến Đinh Liệt phải dùng phép nói ẩn ý để truyền lại cho đời sau.

Bài đăng gần đây