| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Tuesday, December 13, 2011

Anh hùng dân tộc Trương Định


Trương Định hay Trương Công Định hoặc Trương Đăng Định (Canh Thìn 1820 tại Quảng Ngãi - tự sát ở Kiểng Phước ngày 20 tháng 8, năm Giáp Tí 1864), là một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp giai đoạn 1859-1864, thời vua Tự Đức.

Ông sinh tại làng Tư Cung, phủ Bình Sơn, Quảng Nghĩa. Quốc sử triều Nguyễn là Quốc triều chánh biên toát yếu (QTCBTY) chép rằng ...phó quản cơ Gia Định là Trương Định, người huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, con quan Lãnh binh Trương Cầm... (nay là xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi). Lãnh binh Trương Cầm là Hữu thuỷ Vệ uý ở Gia Định thời vua Thiệu Trị.

Năm 1844, Trương Định theo cha vào Nam và cưới vợ là con gái một hào phú huyện Tân Hòa (Gò Công). Năm 1850, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của Nguyễn Tri Phương, ông đứng ra chiêu mộ dân nghèo khai hoang, lập ấp. Năm 1854, Trương Định xuất tiền của, chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận. Ông được phong chức Quản cơ đồn điền.

Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem nghĩa binh lên đóng ở Thuận Kiều chống trả và đã từng thắng nhiều trận ở Cây Mai, Thị Nghè...

Đầu năm 1861, Pháp tấn công Gia Định lần thứ hai, QTCBTY quyển V mục tháng 7 năm 1861 có chép ...Trương Định... mộ binh dõng đông lắm, thường cự đánh binh Pháp. Việc ấy tâu lên, Ngài [vua Tự Đức] cho thăng Quản cơ, rồi lại cho lãnh Phó lãnh binh, Trương Định đem quân đồn điền của mình phối hợp với binh của Nguyễn Tri Phương phòng giữ chiến tuyến Kỳ Hòa. Đại đồn thất thủ, ông lui về Gò Công, cùng Lưu Tiến Thiện, Lê Quang Quyền chiêu binh ứng nghĩa, trấn giữ vùng Gia Định-Định Tường. Trương Định tổ chức lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười kéo dài đến biên giới Campuchia.

Đầu năm 1862 Pháp chiếm Biên Hòa, QTCBTY tháng 2 năm này có viết khiến Phó lãnh binh Gia Định là Trương Định kiêm làm đầu mục mộ nghĩa. Trương Đăng Định đóng đồn tại Gò Công, thường lừa đánh quân Pháp, thân sĩ theo nhiều. Theo Website của tỉnh Quảng Ngãi thì quân số của ông lên tới 10.800 người.

Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình nhà Nguyễn ký kết hòa ước với Pháp. QTCBTY viết tháng 7 năm 1862...từ khi đã định hòa ước rồi, Ngài truyền dụ Nam Kỳ nghỉ binh và đòi Trương Định ra Phú Yên. Khi ấy trong các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa những người ứng nghĩa rủ nhau đoàn kết, tôn Trương Định làm Đại đầu mục, xin cho ra đánh, Đình thần nghị rằng: "bây giờ việc Bắc Kỳ đương khẩn, mà Nam Kỳ chưa có cơ hội gì, xin giao Phan Thanh Giản hiểu dụ". Nhưng Trương Định đã lâu mà không chịu về cung chức, bị cách chức hàm. Trên thực tế, ông đã từ chối thư dụ hàng của tướng Pháp là Bonard, bất chấp chiếu vua ra lệnh bãi binh do Phan Thanh Giản truyền vào và rút quân về Gò Công, được nhân dân tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái, lấy nơi này làm bản doanh, xây dựng các căn cứ địa kháng chiến.

Ngày 16 tháng 12 năm 1862, Trương Định đã ra lệnh tấn công các vị trí của quân Pháp ở cả ba tỉnh miền đông Nam Bộ, đẩy Pháp vào tình thế lúng túng, bị động. Tháng 2 năm 1863, nhờ có viện binh, Pháp phản công tại Biên Hòa, Chợ Lớn, bao vây Gò Công. Ngày 26 tháng 2 năm 1863, Pháp đánh chiếm thành trì, ông thoát khỏi vòng vây và kéo quân về Biên Hòa.

Tháng 9 năm 1863, Lagrandière sang thay Bonard, mở cuộc càn quét thứ hai, bắt được vợ con và một số tùy tùng của Trương Định.

Ngày 19 tháng 8 năm 1864 , Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ bao vây đánh úp. Bản doanh " Đám lá tối trời thất thủ, Trương Định bị trọng thương (gãy xương sống) và ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công), để bảo toàn khí tiết vào sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864 Hay tin ông tuẫn tiết, vua Tự Đức liền truy tặng ông phẩm hàm và cho lập đền thờ tại Quảng Ngãi.

Con ông là Trương Quyền đã rút lên vùng Châu Đốc tiếp tục chống Pháp thêm 6 năm nữa.

Nguyễn Đình Chiểu viết về cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định:


Trong Nam, tên họ nổi như cồn
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn
Đấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỉ
Hơi gươm thêm rạng vẻ huỳnh môn
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ
Qua ấn "Bình Tây" đất vội chôn
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt luỵ
Lâm dâm ba chữ "điếu linh hồn"

Tuyên bố của Trương Định trong thư trả lời thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard vào cuối năm 1862:

Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta.

Tuyên bố của Trương Định gửi các quan ở Vĩnh Long, để tỏ ý ly khai với Nam triều ( vì sau hòa ước Nhâm Tuất, vua Tự Đức ra lệnh ông phải bãi binh ) vào tháng 2 năm 1863:

Muốn trở lại y như xưa, dân chúng ba tỉnh yêu cầu chúng tôi đứng đầu khởi nghĩa, chúng tôi không thể làm gì khác được. Chúng tôi chuẩn bị chiến đấu vào hướng Đông cũng như hướng Tây, chúng tôi chống đối và chiến đấu. Chúng tôi sẽ đánh ngã bọn giặc cướp... Hai đoạn trích trên, đã được chép lại và được treo trang trọng tại đền thờ Trương Định, ở ngay trung tâm thị xã Gò Công.

Lăng mộ của Trương Định do vợ thứ của ông là bà Trần Thị Sanh xây dựng năm 1864 tại Gò Công. Trên bia mộ có khắc dòng chữ: "Đại Nam an hà Lãnh binh kiêm Bình Tây Đại Tướng quân Trương công húy Định chi mộ", đã bị đục bỏ một số lần trong thời kỳ người Pháp đô hộ. Năm 1964, nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của ông, đã được tu bổ như đang tồn tại tới hiện nay. Từ năm 1972 đến năm 1973 xây thêm đền thờ.

Lăng mộ và đền thờ Trương Định được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam công nhận là Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia ngày 6 tháng 12 năm 1989.

Lễ hội tưởng niệm ông diễn ra tại đây các ngày 19 và 20 tháng 8 dương lịch hàng năm.

Kẻ sĩ (tổng hợp)

Sunday, December 11, 2011

Lại đi thăm chùa Thiên Mụ

 Trong những ngày học ở Huế, ý quên chủ yếu là đi chơi ở Huế, chùa Thiên Mụ là một địa điểm mà du khách phải tới. Chùa Thiên Mụ (񣘠天姥) hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm Huế khoảng 5km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng - vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất của Huế. Đến chùa Thiên mụ để xem kiến trúc cổ xưa của chùa, xem một số di tích lịch sử trong đó có một số văn bia vua ban và đặc biệt là chùa còn trưng bày chiếc xe mà Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn năm 1963. Khung cảnh nhà chùa khá đẹp, tọa lạc trên một ngọn đồi nhô ra sông Hương. May mắn khi đến đây, Huỳnh gia chứng kiến một buổi tụng kinh của nhà chùa tại Chánh điện mà có lẽ vị sư trụ trì đang hành lễ.
Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Tháp cao 21 m, gồm 7 tầng, được xây dựng ở phía trước chùa vào năm 1844. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Nghe đồn nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng. Tuy nhiên, tui không đi vào được vì đóng cửa nên chưa thấy tượng Phật bằng vàng.

Đây là một trong hai nhà lục giác, một nhà để bia và một nhà để quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu. Hình mà bà con thấy là nhà để bia.

Nhìn về phía cổng chùa

Một buổi lễ tụng kinh tại Chánh điện chùa (không biết là lễ nào). Bà con có thấy thầy trụ trì  khoác áo đỏ ngồi giữa không?

Tượng Phật Di lặc trước Chánh điện

Tượng Phật A di đà trong chánh điện

Cổng chùa Thiên Mụ và Tháp Phước duyên nhìn từ trong ra

Chiếc xe ô tô - di vật của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu

Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày.

Khu rừng thông trong khuôn viên chùa

Hình như là nhà Thuyết Pháp, phía sau là lầu Tàng Kinh

Hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam là Đào Tấn (hình như không phải cục đá này)

Khu mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của chùa Thiên Mụ

Một góc nhìn khác về phía cổng chùa và Tháp Phước Duyên

Thursday, December 8, 2011

Lên sơn động viếng chùa Huyền Không

Thú thật là chuyến đi này tui không khoái chút nào, phải vượt qua đoạn đường nông thôn, đường ổ gà, đường đồng và đường núi (chủ yếu là đá và đất ngập nước) mới đến chùa Huyền Không sơn thượng. Có lẽ sơn thượng là trên núi cao mới có chùa Huyền Không. Ngặt một nỗi khi gần đến chùa (cách khoảng 1 km) bánh trước xe Honda "xẹp lép như con tép". Thế là phải dẫn bộ vài chục thước, sau đó mệt quá vì đường dốc cao đành phải chạy luôn. Kể như hy sinh cái ruột bánh xe "vì sự nghiệp chụp ảnh và ham vui". Mà thực ra cũng không có chỗ vá xe giữa rừng.
Đường đồng để đến chùa

Phong cảnh xung quanh chùa

Đăng vân kiều - chẳng biết có phải là cầu hội tu mây hay không ? Vậy mà tui chẳng thấy mây nào hết.

Du khách chụp ảnh

Một góc thư pháp ngoài vườn

Và hình như là chỗ ngồi thiền, tịnh tâm cho du khách

Rừng thiền. Để chơi thôi chứ tui chẳng biết vào rừng ở chổ nào.

Vườn thư pháp. Mà lạ là chẳng thấy ai vào. Có lẽ sắp tối rồi chăng.

Một lá cờ Phật giáo trên phía rừng thiền cho biết đây là cái "chùa".

Một góc vườn thư pháp

Cầu qua rạch (không tên)

Đang suy nghĩ, chẳng biết là cái gì.

Hang đá của Bồ tát khổ hạnh

Và đây là bức tượng bồ tát khổ hạnh

Đền đây hình như xuất hiện nhiều tượng Phật rồi

Lối vào chánh điện

Cổng vào khu vườn chánh điện

Lại tượng Phật nữa (hình như bằng đồng)

Và đây cũng là một kiểu tượng Phật

Khu vườn chánh điện

Tiểu cảnh

Đường vào chánh điện

Nội thất chánh điện

Nhìn ra phía ngoài từ chánh điện

Hình như là nơi tọa đàm của khách vãng cảnh.
Nét đặc biệt ở đây là hình như tui chẳng thấy một vị sư nào cả. Chẳng biết có phải là giờ thầy tịnh, thiền hay là gì khác không. Chỉ bây giờ tui lại thấy khổ, chạy chiếc xe xẹp bánh trước ra về.

Sunday, December 4, 2011

Xót xa lăng mộ một vị vua nhà Nguyễn

Đến với Huế, du khách không khỏi ngỡ ngàng khi chứng kiến sự hoành tráng của lăng vua Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định…, nhưng có một vị vua mà ít ai nhớ tới đó là vua Hiệp Hòa- một trong 13 vị vua triều Nguyễn. Lăng ông giống như mộ của bao nhiêu người dân bình thường khác tọa lạc trên một đỉnh núi ít ai biết tới. 

Heo hút lăng một vị vua Cách TP Huế khoảng 7 km về phía tây, đến với khu di tích Chín hầm thì thấy biển chỉ dẫn tới lăng vua Hiệp Hòa. Men theo con đường đất, đá, cỏ mọc um tùm, 15 phút sau tìm thấy lăng vua Hiệp Hòa đã an nghỉ cách đây 128 năm. Lăng giống như bao nhiêu lăng mộ người dân bình thường nằm bên cạnh. Do thời gian tường gạch đã ngả màu rêu phủ. Lăng chỉ vỏn vẹn chừng 30m2, có một mái che bằng ngói, 2 bậc thang bước lên, ở giữa là tấm bia nhỏ bằng xi măng khắc mấy dòng chữ Quốc ngữ: “Vua Hiệp Hòa tức Nguyễn Phúc Hồng Dật - sinh ngày 24 tháng 9 năm Đinh Mùi (1/11/1847) – Mất ngày 30 tháng 10 năm Qúy Mùi (29/11/1883)”. Mặt sau tấm bia có ghi bốn câu thơ bằng chữ Hán của vua Tự Đức, dịch nghĩa là: “Em ta được mười bốn – Ham học thật ít người – Ngoại trừ Kiến Thụy Công – Nay chỉ còn Văn Lãng”.


Phía sau nhà bia là cổng vào mộ có hai câu thơ viết bằng chữ Hán. Câu bên phải là của vua Hiệp Hòa tự đánh giá về mình: “Qúy dĩ tiên hoàng quý tử tư chất tầm thường thật vạn bất can đương”, dịch nghĩa: “Là con út yêu quý của tiên hoàng có tư chất tầm thường không cam nổi ngai vàng”. Câu bên trái là của Viện Cơ Mật: “Kim nhật tất cầu cầu xã tắc trường quân vô như Văn Lãng Công chi hiền”, dịch nghĩa: “Khen Văn Lãng Công hoàn tất tốt việc cúng tế ở đàn xã tắc”. Xung quanh lăng cây cỏ mọc um tùm không ai nhổ bỏ nên khuất cả lối đi, và dường như bát hương cũng tàn lạnh từ rất lâu. Không tường chắn bao bọc, che chắn, đơn giản đến mức hoang sơ, chẳng ai nghĩ đó là lăng của một vị vua. 

 Nguồn gốc cơ sự:

Theo sử cũ, vua Hiệp Hòa tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị, sinh ngày 1-11-1847. Năm Tự Đức thứ 31 tức năm Kỉ Mão (1879), Hồng Dật được tấn phong Lãng Quốc Công. Tháng 6-1883 sau khi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng chân tay phế xong vua Dục Đức, được ý chỉ của Từ Dụ Hoàng Thái hậu, triều đình cử một phái đoàn ra Kim Long rước Lãng Quốc Công vào Đại Nội để chuẩn bị làm lễ đăng quang. Hồng Dật khóc mà rằng: “Tôi là con út của tiên đế, tư chất tầm thường, không dám nhận ngôi vua”. Phái đoàn vừa năn nỉ vừa dùng vũ lực mới đưa được Hồng Dật vào Cấm Thành. Hai hôm sau ông trở thành vua Hiệp Hòa! Sau đó Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thâu tóm mọi quyền hành. “Vua Hiệp Hòa thấy ông Tường và ông Thuyết có lập trường chính trị trái ngược mình, liền viết một bức thư giao cho Hồng Sâm, vừa là Bí thư vừa là anh em thúc bá của mình, mang qua tòa Khâm để nhờ tay Pháp hạ hai quan phụ chính trên, việc lén lút này bị bại lộ, ông Tường bắt được lá thư nằm trong chiếc hộp sơn, có đóng dấu của nhà vua” (trích sách “kể chuyện vua quan nhà Nguyễn” của Phạm Khắc Hòe”). Hai quyền thần trên cho mời các đại thần đến, kể tội vua Hiệp Hòa và ép các đại thần kí vào sớ đòi phế truất Hiệp Hòa, sau đó vào cung Diên Thọ xin ý chỉ của Hoàng Thái Hậu, đồng thời cho 50 lính vào cung điện Càn Thành bắt Hiệp Hòa phải tự xử mình theo “Tam ban triều điển” dành cho các đế vương phạm tội tử hình, vua đành chọn chén thuốc độc, hoàng thân Hồng Sâm cũng bị xử chém chết vì tội đồng lõa với vua Hiệp Hòa để bán nước. Đó là ngày 30 tháng 10 năm Qúy Mùi tức 29 tháng 11 năm 1883. Hiệp Hòa làm vua được 4 tháng, chết lúc 36 tuổi, giao cho Phủ Tôn nhân chôn cất theo nghi thức Quốc Công. Vì là phế đế nên vua Hiệp Hòa không được thờ trong Thế Miếu.

Saturday, December 3, 2011

Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái


Bánh khoái thuộc hàng đặc sản xứ Huế. Hàng bánh khoái bây giờ có mặt khắp nơi. Trước năm 1975 ở Huế có hai tiệm bánh khoái nổi tiếng.

Bánh khoái Lạc Thiện, còn gọi là bánh khoái Thượng Tứ, vì ở ngay trước cửa Thượng Tứ. Bánh khoái Lạc Thiện tồn tại liên tục hơn 50 năm. Tiệm thứ hai của ông Nghĩa, ở đường Võ Tánh, nay là đường Nguyễn Chí Thanh. Nhà ông Nghĩa ở ngay chân cầu Đông Ba nên có tên là bánh khoái Đông Ba. Về các địa chỉ ẩm thực, người Huế có câu: Bánh khoái Đông Ba, cơm gà Gia Hội.


Sau năm 1975 gia đình ông Nghĩa đi kinh tế mới. Dịp đó gia đình tôi mới hồi hương, mẹ tôi mua lại nhà của ông Nghĩa. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp một người luống tuổi đi qua đi lại, nhìn ngó trước nhà. Cũng có người vào tận nhà hỏi thăm: Tiệm bánh khoái ngày trước chừ chuyển đi mô rồi hè? Họ là những người Huế xa xứ đã lâu, nay nhân dịp về thăm quê nên tìm về một kỷ niệm, tìm ăn bánh khoái hợp gu ở tiệm có thương hiệu. Đầu thập niên 1980 có người đến đặt vấn đề mua lại nhà tôi để mở tiệm bánh khoái, với ý tưởng phục hồi một thương hiệu vốn có để dễ thu hút khách, nhưng mẹ tôi không đồng ý.


Gần giống bánh xèo của miền Nam về nguyên liệu nhưng bánh khoái được người Huế nâng lên thành đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực. Ví dụ như bột làm bánh được xử lý bằng nước vôi đã lọc trong- khi ngâm gạo. Nhân bánh hấp dẫn và bắt mắt với thịt heo (hoặc thịt bò), tôm (bóc vỏ), giá đỗ, nấm hương- xào nấu vừa chín tái. Khi đổ bánh lại cho thêm một chút lòng đỏ trứng gà vào bột, để thêm ngon, thêm bổ dưỡng, và để bánh có sắc màu thật ngon con mắt.


Bánh khoái ăn nóng mới ngon, thích hợp với bữa ăn tối hơn là ăn trưa, với những ngày tiết trời se lạnh. Khách vào bàn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Khuôn bánh khoái làm bằng gang, hình tròn, có tay cầm. Cho dầu ăn (hoặc mỡ) vào khuôn, dầu sôi thì đổ bột vừa một lớp mỏng. Bột va vào mỡ sôi xèo xèo bốc hơi thơm thật quyến rũ. Có lẽ vì thế mà người miền Nam gọi là đổ bánh xèo. Còn người Huế, ban đầu món bánh này gọi là bánh khói. Bởi ngày trước đổ bánh trên bếp củi, quy trình đổ bánh khá lâu nên người đầu bếp bị khói cay cả mắt. Có người cho rằng vì bánh khoái vừa đổ vừa ăn nên khói từ khuôn bánh bốc lên thơm lừng, và ngay cả khi ăn bánh vẫn đang bốc khói. Về sau người ta đọc chệch khói thành khoái, rồi quen dần. Cũng có lối giải thích rằng vì đây là một món ăn khoái khẩu mà ra tên gọi bánh khoái.



Trở lại công đoạn đổ bánh. Khi bột vừa chín vàng thì gắp tôm, thịt, giá, nấm cho vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt. Trở bánh cho vàng đều hai bên, bày ra đĩa đến hơn mười phút sau ăn vẫn giòn.


Đổ bánh công phu là thế, nhưng bánh khoái ngon còn phải nhờ đến nước lèo. Đây cũng là điểm khác biệt giữa bánh khoái và bánh xèo. Nước lèo không phải ai cũng chế biến được, vì nó rất cầu kỳ, với thành phần nguyên liệu khoảng chục loại như: Bột báng, thịt nạc và gan heo (lợn) băm nhỏ, mè (vừng) và đậu phụng (lạc) rang giã nhỏ, tương đậu nành... Tương Huế và gan heo rất quan trọng khi chế biến nước lèo. Tương làm cho nước lèo vừa sền sệt vừa có độ mặn, độ ngọt thích hợp và tạo ra mùi vị đặc trưng Huế. Gan có vị bùi bùi, đậu phụng vừa bùi vừa béo, mè dậy mùi thơm… Chỉ những đầu bếp giỏi, cộng với bí quyết gia truyền mới tạo ra được loại nước lèo đặc chủng, đặc sánh, có màu vàng nâu. Chất lượng nước lèo tạo nên hương vị cao sang của bánh khoái Huế.


Lại còn có sự hỗ trợ, tương tác của dĩa rau sống cũng rất Huế thì món bánh khoái ăn mới khoái và ngon. Dĩa rau sống ngoài xà lách, cải con, chuối chát, khế chua, ớt đỏ, rau thơm, nhất thiết phải có trái vả xắt lát mỏng.


Món bánh khoái thể hiện triết lý ẩm thực của người Huế. Là lối ăn đa sắc, đa vị, đa hương với đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng khi dọn ra trên bàn. Lại có đủ các vị mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt, bùi khi tiếp nhận qua vị giác.


Từ bánh xèo dân dã, bánh khoái được nâng lên thành món ăn cung đình, vương phủ. Từ cung phủ, bánh khoái lan truyền trở ra dân gian, trở thành một món ăn đặc trưng và phổ biến của xứ Huế. Giống như cơm hến và bún bò, bánh khoái từ lâu lắm rồi đã trở thành hồn cốt của văn hoá ẩm thực Huế, vừa thân thiết với người Huế, vừa làm say lòng du khách đến với cố đô Huế thơ mộng, cổ kính.

Thanh Tùng

Bài đăng gần đây