| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Sunday, December 4, 2011

Xót xa lăng mộ một vị vua nhà Nguyễn

Đến với Huế, du khách không khỏi ngỡ ngàng khi chứng kiến sự hoành tráng của lăng vua Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định…, nhưng có một vị vua mà ít ai nhớ tới đó là vua Hiệp Hòa- một trong 13 vị vua triều Nguyễn. Lăng ông giống như mộ của bao nhiêu người dân bình thường khác tọa lạc trên một đỉnh núi ít ai biết tới. 

Heo hút lăng một vị vua Cách TP Huế khoảng 7 km về phía tây, đến với khu di tích Chín hầm thì thấy biển chỉ dẫn tới lăng vua Hiệp Hòa. Men theo con đường đất, đá, cỏ mọc um tùm, 15 phút sau tìm thấy lăng vua Hiệp Hòa đã an nghỉ cách đây 128 năm. Lăng giống như bao nhiêu lăng mộ người dân bình thường nằm bên cạnh. Do thời gian tường gạch đã ngả màu rêu phủ. Lăng chỉ vỏn vẹn chừng 30m2, có một mái che bằng ngói, 2 bậc thang bước lên, ở giữa là tấm bia nhỏ bằng xi măng khắc mấy dòng chữ Quốc ngữ: “Vua Hiệp Hòa tức Nguyễn Phúc Hồng Dật - sinh ngày 24 tháng 9 năm Đinh Mùi (1/11/1847) – Mất ngày 30 tháng 10 năm Qúy Mùi (29/11/1883)”. Mặt sau tấm bia có ghi bốn câu thơ bằng chữ Hán của vua Tự Đức, dịch nghĩa là: “Em ta được mười bốn – Ham học thật ít người – Ngoại trừ Kiến Thụy Công – Nay chỉ còn Văn Lãng”.


Phía sau nhà bia là cổng vào mộ có hai câu thơ viết bằng chữ Hán. Câu bên phải là của vua Hiệp Hòa tự đánh giá về mình: “Qúy dĩ tiên hoàng quý tử tư chất tầm thường thật vạn bất can đương”, dịch nghĩa: “Là con út yêu quý của tiên hoàng có tư chất tầm thường không cam nổi ngai vàng”. Câu bên trái là của Viện Cơ Mật: “Kim nhật tất cầu cầu xã tắc trường quân vô như Văn Lãng Công chi hiền”, dịch nghĩa: “Khen Văn Lãng Công hoàn tất tốt việc cúng tế ở đàn xã tắc”. Xung quanh lăng cây cỏ mọc um tùm không ai nhổ bỏ nên khuất cả lối đi, và dường như bát hương cũng tàn lạnh từ rất lâu. Không tường chắn bao bọc, che chắn, đơn giản đến mức hoang sơ, chẳng ai nghĩ đó là lăng của một vị vua. 

 Nguồn gốc cơ sự:

Theo sử cũ, vua Hiệp Hòa tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị, sinh ngày 1-11-1847. Năm Tự Đức thứ 31 tức năm Kỉ Mão (1879), Hồng Dật được tấn phong Lãng Quốc Công. Tháng 6-1883 sau khi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng chân tay phế xong vua Dục Đức, được ý chỉ của Từ Dụ Hoàng Thái hậu, triều đình cử một phái đoàn ra Kim Long rước Lãng Quốc Công vào Đại Nội để chuẩn bị làm lễ đăng quang. Hồng Dật khóc mà rằng: “Tôi là con út của tiên đế, tư chất tầm thường, không dám nhận ngôi vua”. Phái đoàn vừa năn nỉ vừa dùng vũ lực mới đưa được Hồng Dật vào Cấm Thành. Hai hôm sau ông trở thành vua Hiệp Hòa! Sau đó Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thâu tóm mọi quyền hành. “Vua Hiệp Hòa thấy ông Tường và ông Thuyết có lập trường chính trị trái ngược mình, liền viết một bức thư giao cho Hồng Sâm, vừa là Bí thư vừa là anh em thúc bá của mình, mang qua tòa Khâm để nhờ tay Pháp hạ hai quan phụ chính trên, việc lén lút này bị bại lộ, ông Tường bắt được lá thư nằm trong chiếc hộp sơn, có đóng dấu của nhà vua” (trích sách “kể chuyện vua quan nhà Nguyễn” của Phạm Khắc Hòe”). Hai quyền thần trên cho mời các đại thần đến, kể tội vua Hiệp Hòa và ép các đại thần kí vào sớ đòi phế truất Hiệp Hòa, sau đó vào cung Diên Thọ xin ý chỉ của Hoàng Thái Hậu, đồng thời cho 50 lính vào cung điện Càn Thành bắt Hiệp Hòa phải tự xử mình theo “Tam ban triều điển” dành cho các đế vương phạm tội tử hình, vua đành chọn chén thuốc độc, hoàng thân Hồng Sâm cũng bị xử chém chết vì tội đồng lõa với vua Hiệp Hòa để bán nước. Đó là ngày 30 tháng 10 năm Qúy Mùi tức 29 tháng 11 năm 1883. Hiệp Hòa làm vua được 4 tháng, chết lúc 36 tuổi, giao cho Phủ Tôn nhân chôn cất theo nghi thức Quốc Công. Vì là phế đế nên vua Hiệp Hòa không được thờ trong Thế Miếu.

Saturday, December 3, 2011

Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái


Bánh khoái thuộc hàng đặc sản xứ Huế. Hàng bánh khoái bây giờ có mặt khắp nơi. Trước năm 1975 ở Huế có hai tiệm bánh khoái nổi tiếng.

Bánh khoái Lạc Thiện, còn gọi là bánh khoái Thượng Tứ, vì ở ngay trước cửa Thượng Tứ. Bánh khoái Lạc Thiện tồn tại liên tục hơn 50 năm. Tiệm thứ hai của ông Nghĩa, ở đường Võ Tánh, nay là đường Nguyễn Chí Thanh. Nhà ông Nghĩa ở ngay chân cầu Đông Ba nên có tên là bánh khoái Đông Ba. Về các địa chỉ ẩm thực, người Huế có câu: Bánh khoái Đông Ba, cơm gà Gia Hội.


Sau năm 1975 gia đình ông Nghĩa đi kinh tế mới. Dịp đó gia đình tôi mới hồi hương, mẹ tôi mua lại nhà của ông Nghĩa. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp một người luống tuổi đi qua đi lại, nhìn ngó trước nhà. Cũng có người vào tận nhà hỏi thăm: Tiệm bánh khoái ngày trước chừ chuyển đi mô rồi hè? Họ là những người Huế xa xứ đã lâu, nay nhân dịp về thăm quê nên tìm về một kỷ niệm, tìm ăn bánh khoái hợp gu ở tiệm có thương hiệu. Đầu thập niên 1980 có người đến đặt vấn đề mua lại nhà tôi để mở tiệm bánh khoái, với ý tưởng phục hồi một thương hiệu vốn có để dễ thu hút khách, nhưng mẹ tôi không đồng ý.


Gần giống bánh xèo của miền Nam về nguyên liệu nhưng bánh khoái được người Huế nâng lên thành đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực. Ví dụ như bột làm bánh được xử lý bằng nước vôi đã lọc trong- khi ngâm gạo. Nhân bánh hấp dẫn và bắt mắt với thịt heo (hoặc thịt bò), tôm (bóc vỏ), giá đỗ, nấm hương- xào nấu vừa chín tái. Khi đổ bánh lại cho thêm một chút lòng đỏ trứng gà vào bột, để thêm ngon, thêm bổ dưỡng, và để bánh có sắc màu thật ngon con mắt.


Bánh khoái ăn nóng mới ngon, thích hợp với bữa ăn tối hơn là ăn trưa, với những ngày tiết trời se lạnh. Khách vào bàn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Khuôn bánh khoái làm bằng gang, hình tròn, có tay cầm. Cho dầu ăn (hoặc mỡ) vào khuôn, dầu sôi thì đổ bột vừa một lớp mỏng. Bột va vào mỡ sôi xèo xèo bốc hơi thơm thật quyến rũ. Có lẽ vì thế mà người miền Nam gọi là đổ bánh xèo. Còn người Huế, ban đầu món bánh này gọi là bánh khói. Bởi ngày trước đổ bánh trên bếp củi, quy trình đổ bánh khá lâu nên người đầu bếp bị khói cay cả mắt. Có người cho rằng vì bánh khoái vừa đổ vừa ăn nên khói từ khuôn bánh bốc lên thơm lừng, và ngay cả khi ăn bánh vẫn đang bốc khói. Về sau người ta đọc chệch khói thành khoái, rồi quen dần. Cũng có lối giải thích rằng vì đây là một món ăn khoái khẩu mà ra tên gọi bánh khoái.



Trở lại công đoạn đổ bánh. Khi bột vừa chín vàng thì gắp tôm, thịt, giá, nấm cho vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt. Trở bánh cho vàng đều hai bên, bày ra đĩa đến hơn mười phút sau ăn vẫn giòn.


Đổ bánh công phu là thế, nhưng bánh khoái ngon còn phải nhờ đến nước lèo. Đây cũng là điểm khác biệt giữa bánh khoái và bánh xèo. Nước lèo không phải ai cũng chế biến được, vì nó rất cầu kỳ, với thành phần nguyên liệu khoảng chục loại như: Bột báng, thịt nạc và gan heo (lợn) băm nhỏ, mè (vừng) và đậu phụng (lạc) rang giã nhỏ, tương đậu nành... Tương Huế và gan heo rất quan trọng khi chế biến nước lèo. Tương làm cho nước lèo vừa sền sệt vừa có độ mặn, độ ngọt thích hợp và tạo ra mùi vị đặc trưng Huế. Gan có vị bùi bùi, đậu phụng vừa bùi vừa béo, mè dậy mùi thơm… Chỉ những đầu bếp giỏi, cộng với bí quyết gia truyền mới tạo ra được loại nước lèo đặc chủng, đặc sánh, có màu vàng nâu. Chất lượng nước lèo tạo nên hương vị cao sang của bánh khoái Huế.


Lại còn có sự hỗ trợ, tương tác của dĩa rau sống cũng rất Huế thì món bánh khoái ăn mới khoái và ngon. Dĩa rau sống ngoài xà lách, cải con, chuối chát, khế chua, ớt đỏ, rau thơm, nhất thiết phải có trái vả xắt lát mỏng.


Món bánh khoái thể hiện triết lý ẩm thực của người Huế. Là lối ăn đa sắc, đa vị, đa hương với đủ các màu xanh, đỏ, tím, vàng, trắng khi dọn ra trên bàn. Lại có đủ các vị mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt, bùi khi tiếp nhận qua vị giác.


Từ bánh xèo dân dã, bánh khoái được nâng lên thành món ăn cung đình, vương phủ. Từ cung phủ, bánh khoái lan truyền trở ra dân gian, trở thành một món ăn đặc trưng và phổ biến của xứ Huế. Giống như cơm hến và bún bò, bánh khoái từ lâu lắm rồi đã trở thành hồn cốt của văn hoá ẩm thực Huế, vừa thân thiết với người Huế, vừa làm say lòng du khách đến với cố đô Huế thơ mộng, cổ kính.

Thanh Tùng

Tuesday, November 29, 2011

Một chút Huệ buồn trong Văn miếu

Đến Huệ (Huệ chứ không phải Huế) để học, phải đi thăm Văn thánh miếu - nơi ngày xưa sĩ tử thành danh thời nhà Nguyễn đều được khắc tên trên bia tiến sĩ đặt ở đây. Dĩ nhiên anh em cũng sính một mớ công danh nên đây là địa chỉ bắt buộc phải đến. Thăm Văn miếu, "sờ" đầu "ông rùa" để lấy cái hên trong những ngày sinh sống ở đây. Đến thăm trong một buổi sáng u ám và lắc rắc mưa nên anh em gọi là Huệ buồn (chứ không phải Huế buồn). Vài hình ảnh gửi bà con xem chơi.
Cổng vào Văn tháng miếu

Hàng bia tiến sĩ
Phải sờ đầu rùa thôi

Tui không đọc được - Chắc là bài chiếu vua ban đặt trong Văn miếu

Một dãy nhà đặt bia tiến sĩ

Trên đường ra cổng văn miếu

Một chút Huệ buồn

Thursday, November 24, 2011

Sự tích An Lăng

Đến thăm An Lăng, chúng ta không khỏi ngậm ngùi tưởng niệm khu điện thờ 3 vua, trong đó 2 vị vua là những bậc minh quân, thương dân, yêu nước, chống Pháp đến cùng. Vua Dục Đức chỉ làm vua được 3 ngày rồi bị cận thần bắt giam không cho ăn uống rồi chết, chỉ vì dám bớt lời trong di chiếu vua Tự Đức. Thành Thái và Duy Tân là con cháu vua Dục Đức là những vị vua ái quốc, bị Pháp bắt đi đày. Sau khi chết mới đem xác về Huế chôn chung khu mộ với Vua Dục Đức.
Bình phong trước An lăng. Có lẽ chỉ có tấm bình phong này còn nguyên vẹn và đẹp nhất.


Tượng rồng ở bậc tam cấp. Chú ý rồng ở An lăng khá chi tiết hơn rồng ở các lăng khác.

Nơi thờ vua Dục Đức và bà Từ Minh (vợ vua Dục Đức). Điện Long ân thường xuyên bị dột nước mưa khi gặp những trận mưa lớn

Nơi thờ vua Thành Thái (con vua Dục Đức). Có lẽ bàn thờ vua là nơi còn uy nghiêm nhất.

Kế bên đó là bàn thờ vua Duy Tân (con vua Thành Thái)

Toàn cảnh khu điện thờ 3 vua. Nền nhà bằng xi măng loang lổ.

Điện Long ân

Lối vào khu mộ vua Dục Đức

Bình phong điện Long ân (nhìn từ góc độ khác)


Khu mộ vua Dục Đức. Nước mưa đọng vũng cả đường đi.

Cổng vào khu mộ vua đã trở thành phế tích

Mộ vua Dục Đức. Trông thật tội nghiệp, đá gạch lót nền lô xô.

Bình phong trước mộ vua lại đề chữ Song hỷ (ngạc nhiên chưa!)

Mộ bà Từ Minh (song song với mộ vua Dục Đức nhưng cách Nhà bi đình)

Bình phong trước mộ lại không phải chữ Song hỷ

Nhà bi đình đã đổ nát nhưng bên trong không có bia Thánh Đức Thần công (vì Dục Đức chỉ làm vua có 3 ngày nên không có công đức gì để ca ngợi)

Một góc khu mộ

Đi thêm một khoảng nữa là mộ Vua Thành Thái

Khu mộ vua Thành Thái

Bia thờ vua Duy Tân

Và mộ vua Duy Tân

Tuesday, November 22, 2011

Nữ nghệ sĩ Phùng Há

Nữ nghệ sĩ Nhân dân Phùng Há. tên thật là Trương Phụng Hảo, sinh năm 1911, tại làng Điều Hoà, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tp.Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang). Năm 13 tuổi, bà chính thức đi hát cho gánh hát Tái Đồng Ban ở Mỹ Tho. Do có năng khiếu công với sự trao dồi, rèn luyện không ngừng vì nghệ thuật, nên chẳng mấy chốc, tên tuổi của bà đã được nhiều nơi biết đến và là đào chánh của nhiều gánh hát lớn lúc bấy giờ.

Năm 1932, bà cùng với nữ nghệ sĩ Năm Phỉ lập gánh Phi Long. Năm 1935, bà tự mình lập gánh Phụng Hảo; tiếp theo là Vân Hảo và sau cùng là Hảo Cúc Lan. Bà là một diễn viên đa năng, đóng xuất sắc các loại tuồng phỏng theo truyện tàu lẫn loại tuồng tâm lý xã hội. Khán giả lớn tuổi vẫn còn nhớ đến bà qua các vai cô Lựu trong vở Đời Cô Lựu, Mạnh Lệ Quân trong vở Mânh Lệ Quân thoát hài, Vương nữ trong vở Mộng Hoa Vương, Kiều Nhan trong vở Máu nhuộm Phụng hoàng cung, Lữ Bố trong vở Phụng Nghi Đình ...

Ngoài ra, bà rất năng nổ trong hoạt động xã hội và có uy tín lớn trong giới nghệ sĩ cải lương. Trước năm 1975, bà được bầu vào chức vụ Hội trưởng Hội Nghệ sĩ Ái hữu tương tế trong nhiều năm liền. Đây là một tổ chức cách mạng hoạt động công khai dưới hình thức văn nghệ ở Sài Gòn từ năm 1948-1975. Sau ngày đất nước thống nhất, bà là cố vấn cho Ban Ái hữu Nghệ sĩ TP.Hồ Chí Minh, khu dưỡng lão nghệ sĩ và chùa Nghệ sĩ ở Gò Vấp (TP.HCM). Bà đã từng là giảng viên của trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn (trước năm 1975), Trường Nghệ thuật sân khấu II TP Hồ Chí Minh (sau năm 1975).

Cả một đời cống hiến không mệt mỏi cho nghệ thuật cải lương, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Nghệ sĩ Nhân dân. Đến năm 2004, bà đã được 93 tuổi.

Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC NGHIỆP

Bài đăng gần đây