| Blog gia đình: Huỳnh Gia tắm biển và viếng chùa Cổ Thạch  |  Một thoáng quê hương: Đi tìm mộ vua Hiệp Hòa  |  Quê Việt: Bánh khoái vừa ngon vừa... khoái  |  Nhân vật: Anh hùng dân tộc Trương Định  |  Danh thắng: Lăng mộ - đền thờ Trương Định  |  Clip vui: Còn tệ hơn  |  Suy ngẫm: Chợ nổi - đời trôi  |  Chuyện lạ: Phép thuật bẻ chân cắt cổ gà rồi làm sống lại | Đặt làm trang chủ

Suối Tiên (Phan Thiết phiêu lưu ký phần 5)

Huỳnh Gia đi tham quan tại Suối Tiên (Suối Tiên ở Phan Thiết chưa không phải suối tiên tại TP Hồ Chí Minh nha).

Huỳnh Gia thăm dinh thầy thím

Nhân dịp chị Hai về, Huỳnh Gia tổ chức chuyến đi Phan Thiết. Đây là chuyến đi trong gia đình cho chị Hai trước khi chị lại về Canada.

Thăm mộ bà Hoàng Thị Loan

Đến Nghệ An, nhất định bạn phải thăm khu di tích mộ bà Hoàng Thị Loan, mẹ của Bác Hồ.

Đến ngã ba Đồng Lộc

Một buổi sớm tháng 7/2012, nhân lúc rãnh rỗi, tui đón xe đến Ngã ba Đồng Lộc, nơi 10 cô gái hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Ghé thăm đền ông Hoàng Mười

Một chuyến đi viếng thăm Đền Bến Củi, còn gọi là đền Ông Hoàng Mười. Thật sự đó là đền thờ Bà chúa Liễu Hạnh.

Monday, June 2, 2008

Tạm biệt trường mầm non thân yêu


Tạm biệt búp bê xinh xinh,
Tạm biệt gấu Misa nhé,
Tạm biệt thỏ trắng tinh,
Mai tôi vào lớp 1 rồi.
Nhớ quá, quên sao được.
Trường mầm non thân yêu.
Đó là những lời bài hát mà Uy lùn ngân nga trong buổi lễ ra trường của sinh viên Gia Uy tại trường mầm non Lê Thị Hồng Gấm.





Sunday, May 18, 2008

Phú Quốc - đảo ngọc


1. Vài nét lịch sử:
Năm 1671, một người Hoa tên Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời khỏi Phúc Kiến. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, phái đoàn Mạc Cửu đổ bộ lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur, Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681.
1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.
Ông lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển: Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán, tức người Khmer), sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn vang xa, lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan xin vào đây lập nghiệp, dần dần vùng đất này trở thành một lãnh địa phồn vinh với tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có).
Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc được với Chúa Quốc Nguyễn Phúc Chu.
Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu.
Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh.
Từ 1729, Long Hồ dinh nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan.
Năm 1735, Mạc Cửu mất, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ, được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Gia đình họ Mạc được Ninh vương Nguyễn Phúc Trú nâng lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên.
Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu).
Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn lãnh thổ hai phủ Tầm Bôn (Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị. Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam), nói chung là toàn bộ vùng biển ven duyên quanh đảo Phú Quốc, Mạc Thiên Tứ dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Võ vương sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.
2. Thắng cảnh nổi bật:
Bãi biển Phú Quốc, thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang của Việt Nam vừa được hãng tin ABC News bình chọn đứng đầu trong số 5 bãi biển đẹp và sạch, nhưng còn ít người biết tới trên thế giới.
Đứng đầu trong danh sách các “Hidden Beaches” (tạm dịch là bãi biển tiềm ẩn) chính là Bãi Dài của đảo Phú Quốc. Bãi biển này được xem là “tuyệt vời” nhất trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm. Để đến với Bãi Dài cũng như các bãi biển khác trên hòn đảo Phú Quốc, du khách có thể đi tàu thủy hoặc máy bay tuyến TP.HCM - Phú Quốc.
Đứng sau Bãi Dài của Phú Quốc trong danh sách trên là bãi Wildcat Beach ở California, Mỹ, Pink Beach ở Barbuda, một đảo có nhiều bãi cát rất đẹp thuộc Đại Tây Dương, Cayo Costa State Park phía Nam Florida và Majahuitas Cove của Mexico.
2.1. Dinh Cậu:
Mũi đá Dinh Cậu cuốn hút du khách không chỉ bởi vẻ kỳ thú do thiên nhiên ban tặng, mà còn vì sự huyền bí, linh thiêng qua những truyền thuyết xa xưa. Chuyện kể rằng người dân Phú Quốc sống bằng nghề chài lưới, nhiều ngư dân ra khơi gặp sóng dữ đã mãi mãi không về.
Vào một ngày nọ bỗng nổi lên một mũi đá giữa đại dương xanh thẳm. Cho đây là điềm linh ứng, nhân dân đã xây một ngôi đền để cầu mong được thần linh che chở. Dinh Cậu ra đời vào khoảng thế kỷ XVII, nằm cách thị trấn Dương Đông 200m về phía tây. Từ bãi cát trắng xóa leo lên 29 bậc đá là đến miếu thờ. Uy nghi trên nóc dinh là hình ảnh “lưỡng long tranh châu”. Bên trong chánh điện thờ Chúa Ngọc nương nương và tượng thờ hai “Cậu” - những cao nhân bảo vệ ngư dân vùng biển đảo. Trước mỗi chuyến ra khơi hay vào dịp lễ tết, người dân đảo lại đến thắp nhang cầu mong cho những chuyến đi biển được bình an. Hàng năm vào ngày 15, 16-10 âm lịch, nhân dân mở hội lớn, có rất đông người tham dự.
Tọa lạc trên một ghềnh đá vươn ra biển, Dinh Cậu luôn sừng sững, hiên ngang trước sóng to gió lớn
nhưng lại trở nên huyền diệu, lung linh. Đây có thể được xem là biểu tượng của PQ, nơi có Thạch Sơn Điện với những nét kiến trúc cổ được xây dựng vào năm 1937, người dân Phú Quốc thường gọi là Miếu thờ Long Vương. Phía trước Dinh Cậu là cửa Dương Đông, nơi có ghềnh đá dài với những mỏm đá nổi lô nhô. Khi những đợt gió mùa thổi về, hàng ngàn ngọn sóng trắng xoá đổ vào cửa sông dào dạt. Liền kề Dinh Cậu là bãi Dương Đông với bờ biển cát vàng, nước xanh, rực nắng (còn gọi là bãi tắm Dinh Cậu).
Dinh Cậu hiện là điểm đến của khách du lịch với hàng trăm ngàn lượt người mỗi năm. Khách tham quan vừa nghỉ ngơi, tắm biển vừa thưởng thức hải sản tươi ngon bậc nhất miền Tây. Lên Dinh lắng nghe tiếng sóng rì rào mang đậm vị mặn mà của biển và trải lòng với thiên nhiên là điều thú vị rất riêng mà chỉ nơi này mới có.
2.2. Suối Tranh:
Là con suối đẹp, bắt nguồn từ các khe nhỏ của các ngọn núi thuộc dãy Hàm Ninh men theo những khe đá, uốn lượn qua những trảng tranh xanh mượt trước khi hòa vào một dòng chính để tạo thành con suối lớn với chiều dài 15 km. Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Dòng nước trong veo hiền hòa, vượt qua những tảng đá lớn tạo nên những thác cao và hồ rộng.
Tắm suối, ngắm cảnh xong du khách có thể leo lên chừng 300m, khám phá động hang dơi sâu chừng 60m với những thạch nhũ tuyệt đẹp.
… Còn tiếp …

Saturday, May 3, 2008

Châu Thới sơn tự


Chùa núi Châu Thới (Châu Thới sơn tự) là ngôi chùa xưa nhất của Bình Dương và là một trong những ngôi chùa hình thành sớm vào hàng đầu ở Nam bộ (nửa sau thế kỷ XVII. Tọa lạc tại xã Bình An, huyện Thuận An, trên một ngọn núi cao 85m, với 208 bậc thang lên xuống. Chùa Hội Sơn do Thiền sư Khánh Long tạo dựng vào thế kỷ XVII.


Nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn, chiếm diện tích trên 25 ha, kế cận các khu dân cư của các tỉnh thành như Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và gần các thắng cảnh, khu vui chơi nghỉ mát khác như chùa Tam Bảo, suối Lồ Ồ, núi Bửu Long, chùa núi Châu Thới trở thành điểm tham quan, lễ chùa của đông đảo khách thập phương.
Trong sách Gia Định Thành Thông Chí có viết về thắng cảnh Châu Thới như sau: “Núi Châu Thới cách phía Nam trấn Biên Hòa mười một dặm rưỡi, các từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về trấn thành, hình núi nhấp nhô cao thấp khuất khúc, chạy qua hướng Đông, giáp hạ lưu sông Đồng Nai rồi đến Gò Công thì dứt. Ở đuôi dãy núi Châu Thới, về phía Bắc, nứt ra một chi chạy đến địa phận thôn Long Tuy, rồi nổi lên gò cao bằng phẳng rộng rãi. Trên núi có hang hổ và suối nước, dân chúng ở dọc theo đó. Chùa Hội Sơn, là chỗ Thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành. Chùa Hội Sơn trên núi nhìn xuống sông Đồng Nai, khách hành hương leo lên núi du ngoạn, có cảm tưởng tiêu dao thoát ngoài cõi tục lụy.”
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” cũng miêu tả khá rõ núi và chùa Châu Thới gần giống như trên: “Núi Chiêu Thới gọi là núi Châu Thới, ở phía nam huyện Phước Chính 21 dặm, từng núi cao tít làm bình phong cho tỉnh thành (…). Khoảng giữa núi Chiêu Thới (…) có am Vân Tĩnh là nơi ni cô Lượng tĩnh tu, di chỉ này vẫn còn (…). Đột khởi một gò cao bằng phẳng rộng rãi, ở bên có hang hố và nước khe chảy quanh, nhà của nhân dân ở quanh theo. Trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long trác tích tu hành. Năm Bính Thân, đạo Hòa Nghĩa là Lý Tài chiếm cứ Châu Thới tức là chỗ này. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đưa núi này liệt vào tự điển”.
Chùa được xây trên ngọn núi Châu Thới ở xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, nên có tên chùa núi Châu Thới.
Cổng chùa bằng đá dưới chân núi có tên đề chùa bằng chữ Hán “Châu Thới sơn tự”. Cổng tam quan có 3 mái cong và bánh xe pháp luân nằm ở giữa đỉnh, hai bên cửa có chữ “Từ bi - Hỉ xả …”.
Giữa giảng Phật đường có tấm biển đề 4 chữ “Châu Thới sơn tự”, trên biển có ghi thêm dòng chữ “Tân Dậu niên, Chánh Ngoạt Sơ Kiến Nhật” (ngày tốt đầu tháng giêng năm Tân Dậu), bên dưới ghi rõ hàng số 1612 (có lẽ chùa được xây năm 1612).
Hiện nay, chùa được xây thêm một công trình mới gồm một trệt, một lầu và bên trên sân thượng có xây bảo tháp thờ tượng Quan Âm bằng đồng cao 3m, nặng 3 tấn.
Qua bao thăng trầm biến động, phần lớn các di ảnh, hành trang của hầu hết các vị khai tổ của chùa chỉ còn được lưu truyền qua trí nhớ của các đệ tử. Đến nay, chùa chỉ còn giữ được 5 long vị từ thế hệ truyền thừa đời thứ 40 của phái Lâm Tế dòng Bổn Nguyên.
Kiến trúc hiện nay được xây dựng năm 1954, tam quan xây dựng năm 1970. Ngôi chánh điện được Hòa thượng Viện chủ Thích Huệ Thông và Thượng tọa trụ trì Thích Minh Thiện tổ chức đại trùng tu từ năm 1992 đến năm 1995.
Chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ và tượng quý như bộ tượng Di-đà Tam Tôn và tượng Phật Thích-ca bằng đồng, cao 3m, bộ tượng Thập bát La-hán, Thập Điện Minh Vương bằng đất nung, tượng Bồ-tát Quán Thế Âm bằng gỗ mít và một số tượng Phật, tượng Bà Chúa Xứ bằng đá xanh.
Hàng năm, chùa đón tiếp hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


Kẻ sĩ (tổng hợp)

Wednesday, April 30, 2008

Chùm chuyện cười

Giữ bí mật
Một người hỏi ý kiến của bạn về một người bạn khác:
- Này, theo cậu, liệu có thể nói chuyện bí mật với anh chàng ấy được không?
- Được quá đi chứ, 5 năm trước anh ấy được tăng lương, thế mà đến tận bây giờ vợ anh ấy vẫn chưa biết.

Nhân chứng
-Anh đi đâu mà bây giờ 2 giờ đêm mới về?
- Anh nhậu với anh X.
- Chắc anh nhậu với giám đốc X. không?
- Anh thề...
Cô vợ thò đầu xuống gầm giường:
- Anh X., anh ra đây làm chứng cho em này!

Đâu phải tôi
Một bác nông dân mua bò ngoài chợ hỏi người bán:
- Con bò này cho nhiều sữa chứ?
- Vâng, nhiều lắm! Nhưng khi vắt sữa, nó cứ đá chân lung tung nên người vắt vất vả lắm!
- Không sao, vợ tôi vắt sữa cho nó - chứ tôi có vắt đâu!

Dễ tính
Người bạn đi công tác đến tỉnh X. nơi hổm rày bạn đồng nghiệp cũng đang công tác ở đây:
- Tớ không vui khi báo cậu biết ở nhà vợ cậu sống phóng túng lắm. Cô ấy đi với gã râu rậm thật thân mật...
- Hắn đeo kính xanh da trời.
- Đúng!
- Tóc màu hung đỏ?
- Đúng!
- À, thế thì tớ biết rồi, Henri đấy mà. Thằng ấy dễ tính lắm và thuộc loại ăn tạp, bạ cô nào hắn cũng sán vào.

Tuesday, April 29, 2008

Văn miếu Trấn Biên

17 năm sau khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào xác lập nền hành chính của vùng đất mới phương Nam, văn miếu Trấn Biên được xây dựng (1715). Theo “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, ngoài Thăng Long- Hà Nội (Văn miếu Quốc tử giám, 1070), văn miếu được xây dựng ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng văn miếu Trấn Biên là văn miếu được xây dựng sớm nhất ở phía Nam, trước văn miếu Vĩnh Long, Gia Định và cả văn miếu kinh đô Huế. Huỳnh gia giới thiệu những hình ảnh đẹp của Văn miếu Trấn biên được ghi lại nhân chuyến công tác tại Đồng Nai.


Theo “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức biên soạn vào đầu thế kỷ XIX (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, xuất bản năm 1972), Văn miếu Trấn Biên được xây dựng tại thôn Tân Lại, huyện Phước Chánh (nay thuộc phường Bửu Long, TP. Biên Hòa) vào đời vua Hiển Tông năm Ất Vị thứ 25 (tức năm 1715). Văn miếu Trấn Biên đã qua hai lần trùng tu vào năm Giáp Dần (1794) và năm Tự Đức thứ 5 (1852). Theo mô tả của sử sách, văn miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, “nơi đây núi sông thanh tú, cỏ cây tốt tươi... Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo... Trong thành trăm hoa tươi tốt, có những cây tòng, cam quýt, bưởi, hoa sứ, mít, xoài, chuối và quả hồng xiêm đầy rẫy, sum sê, quả sai lại lớn”.
Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trong bối cảnh vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã khá ổn định về chính trị, phát triển kinh tế- xã hội (có Nông đại đại Phố, có dinh trấn...) như một sự xác lập vị thế địa văn hóa-chính trị của vùng đất; đồng thời là sự tiếp nối văn miếu Thăng Long và truyền thống trọng học, trọng trí thức nhân tài của tổ tiên trải qua nhiều thế kỷ xây dựng quốc gia tộc lập tự chủ. Gắn liền với văn miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển khá sớm ở Biên Hòa- Đồng Nai lúc bấy giờ. Và trên nền giáo dục ấy cũng đã sản sinh ra những tên tuổi làm rạng rỡ vùng đất phương Nam, đồng thời tô điểm thêm truyên thống văn hóa ngàn năm của dân tộc ta như: Võ Trường Toản, Trịnh Hòai Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Nguyễn Đình Chiểu...
Do thời gian và những biến cố lịch sử, văn miếu Trấn Biên bị tàn phá không còn lại dấu vết (theo “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu, năm 1861 khi tiến chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá văn miếu Trấn Biên), người đời nay chỉ hình dung văn miếu chỉ hình dung văn miếu Trấn Biên xưa qua sử sách. Song với những gì được mô tả và người đời lúc bấy giờ xưng tụng, người Biên Hòa – Đồng Nai hôm nay rất đỗi tự hào về ngôi đền văn miếu của mình.
Nằm trong kế hoạch xây dựng các thiết chế văn hóa ở Đồng Nai, nhân kỷ niệm 300 năm Biên Hòa – Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng lại văn miếu Trấn Biên. Lễ khởi công diễn ra vào ngày 9-12-1998 và khánh thành công trình giai đoạn 1 vào ngày mùng 3 Tết Nhâm Ngọ 2002 (nhằm ngày 14-2-2002). Trong dịp kỷ niệm 290 năm văn miếu Trấn Biên, các công trình giai đoạn 2 tiếp tục được xây dựng và mở rộng thêm diện tích.
Việc phỏng dựng lại văn miếu Trấn Biên không chỉ là việc làm hướng về cội nguồn, truyền thống đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân mà còn gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa để “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” như Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) của Đảng đã đề ra.
Văn miếu Trấn Biên được xây dựng lại theo hình thức truyền thống nhưng thể hiện biểu trưng mới về văn hóa giáo dục và tinh thần trọng việc học hành theo quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Văn miếu là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa giáo dục xưa và nay của dân tộc và của địa phương; đồng thời là một thiết chế văn hóa, du lịch gắn với khu danh thắng Bửu Long đã được công nhận là di tích quốc gia. Do vậy, ngoài việc thờ phụng các danh nhân văn hóa – giáo dục xưa và nay, Văn miếu Trấn Biên còn là nơi tổ chức lễ báo công, tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực. Thực tế từ khi khánh thành (năm 2002) đến nay, Văn miếu Trấn Biên là nơi thường xuyên diễn ra các lễ viếng các bậc tiền nhân, tổ chức tuyên dương, khen thưởng, báo công những thành tích đặc biệt trên các lĩnh vực mà Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục. Ngoài ra, văn miếu cũng là nơi đón nhiều đoàn khách trong và ngoài tỉnh cũng như các đoàn khách quốc tế khi đến thăm Đồng Nai.
Với hình thức, nội dung và hoạt động mới như vậy, có thể nói Văn miếu Trấn Biên còn là động lực tinh thần lớn lao thể hiện khát vọng vươn lên về trí tuệ và tài năng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà; quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần phong phú, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.



Bài đăng gần đây